Xuất khẩu Việt Nam đứng thứ máy thế giới

Đánh giá của bạn post

Đa dạng hóa thị trường, tận dụng cơ hội được hưởng hạn ngạch thuế quan từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) sẽ là giải pháp giúp ngành mở rộng thị trường xuất khẩu.

Chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

Theo Tổng cục Hải quan, năm 2021, xuất khẩu sắn đạt gần 2,9 triệu tấn, trị giá gần 1,2 tỷ USD, tăng 2,4% về lượng và tăng 16,5% về trị giá so với năm 2020. Sắn và các sản phẩm từ sắn vẫn nông sản Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cả về kim ngạch đầu ra và kim ngạch xuất khẩu trong năm vừa qua.

Xuat khau viet nam dung thu may the gioi. Webp
Doanh số xuất khẩu sắn của Việt Nam đứng thứ hai thế giới sau Thái Lan

Trong những tháng đầu năm 2022, sau khi sản lượng xuất khẩu trong tháng 1 và tháng 2 sụt giảm, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 3 có xu hướng tăng trở lại. Theo ước tính, lượng sắn và xuất khẩu sắn tháng 3/2022 đạt khoảng 450 nghìn tấn, trị giá 202 triệu USD, tăng 80,6% về lượng và tăng 97,1% về trị giá so với tháng 2/2022; So với tháng 3/2021, tăng 51% về lượng và 79,1% về giá trị. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu sắn và sắn ước tính đạt 970.000 tấn, trị giá 420 triệu đô la Mỹ, giảm 0,6% về lượng nhưng tăng 15,5% về trị giá so với cùng kỳ 3 tháng trước. Giai đoạn 2021.

Sắn và các sản phẩm từ sắn hiện là một trong 13 nước sản xuất nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam và là nước xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đứng thứ ba trên thế giới về sản lượng sau Thái Lan và Campuchia và đứng thứ hai. Thế giới về doanh số xuất khẩu chỉ sau Thái Lan.

Tuy nhiên, ngành công nghiệp này vẫn còn rất nhiều. Công nghệ ở nhiều nhà máy, nhất là các nhà máy nhỏ, trình độ công nghệ trung bình còn lạc hậu, chưa chú trọng đến công tác xử lý môi trường dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, gây lãng phí và ảnh hưởng đến môi trường. Chưa có nhiều loại sắn cho năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng tinh bột cao, kháng được bệnh khảm lá sắn; …

Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Quốc Tuấn – Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN & PTNT) – cho rằng, công tác phối hợp giữa nhà máy và người trồng sắn chưa chặt chẽ, cả về cơ chế và lợi ích. . Một số nhà máy chế biến chưa có hợp đồng liên kết, tổ chức sản xuất nguyên liệu nên không đủ nguyên liệu để hoạt động.

Phương thức thu mua và giá cả không linh hoạt, chưa tạo động lực khuyến khích nông dân trồng sắn, nhất là những vùng gần nhà máy. giá xuất khẩu không ổn định, thị trường xuất khẩu yếu và phụ thuộc vào nước ngoài; Thiếu chính sách bảo hộ cho nông dân trồng sắn ở vùng sâu, vùng xa.

Đáng chú ý, thị trường sắn có nhiều khâu trung gian, mỗi khâu lại có nhiều tác nhân tham gia nên thị trường rất phức tạp, cạnh tranh mua bán gay gắt. Thị trường đầu cơ, cạnh tranh về giá dẫn đến chênh lệch giữa giá thu mua của nông dân và giá tiêu dùng của nông dân tăng lên, các trung gian được hưởng lợi.

Thị trường xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, chiếm hơn 95% tổng sản lượng sắn và các sản phẩm từ sắn và chịu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của Thái Lan, Campuchia và Lào. Hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc, điều này dẫn đến sự thiếu bền vững và tiêu cực.

Xem thêm  Cách đăng ký Instagram bằng Facebook

Trong khi đó, cạnh tranh quốc gia thấp do thị trường sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam có nhiều thương lái và chi phí logistics ở Việt Nam cao hơn so với Thái Lan và Trung Quốc.

Một điều trớ trêu khác được ông Nguyễn Nou Kyung – Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN & PTNT) nêu ra là lượng tiêu thụ sắn và các sản phẩm từ sắn trong nước chiếm khoảng 30% tổng sản lượng sắn dùng chế biến lương thực, thực phẩm. , thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp, sản xuất cồn, bột ngọt, mì gói, đường lỏng, tinh bột biến tính, bánh kẹo. Trong khi đó, chúng ta phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm.

Đa dạng hóa thị trường

Theo dự báo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), năm 2022, Trung Quốc sẽ có nhu cầu nhập khẩu sắn nhiều hơn và sẽ nhập khẩu nhiều sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam do điều kiện địa lý. Tuy nhiên, dự kiến ​​xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn sang Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn do hàng loạt quy định, tiêu chuẩn mới được Tổng cục Hải quan Trung Quốc ban hành và thực hiện từ đầu năm 2022.

Hiện sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, tuy nhiên hơn 65% sản lượng xuất khẩu được đưa qua biên giới, qua các cửa khẩu ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai.

Trong khi, kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2022, Trung Quốc đã trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do đó các sản phẩm xuất khẩu không đáp ứng các tiêu chí của các thị trường thành viên RCEP sẽ không đủ điều kiện. Không chỉ đối mặt với việc mất thị trường mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến toàn bộ ngành sản xuất.

Cục Xuất nhập khẩu khuyến cáo các doanh nghiệp xuất khẩu sắn chuyển sang xuất khẩu chính ngạch. Mặt khác, cần rà soát lại quy hoạch vùng tăng trưởng và tổ chức lại sản xuất để hàng Việt Nam phải là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn thị trường, nhất là trong bối cảnh đề án sắp triển khai. Tiếp tục mở rộng thị trường và nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm sắn Việt Nam.

Ngoài việc duy trì thị trường truyền thống là Trung Quốc, ông Nguyễn Quốc Tuấn cho rằng cần tập trung vào các thị trường có nhu cầu nhập khẩu sắn cao như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.

Đáng chú ý, theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã được ký kết, tinh bột sắn là mặt hàng thứ hai được áp dụng hạn ngạch miễn thuế sau gạo là 30.000 tấn / năm (thuế xuất khẩu), và tinh bột sắn ngoài hạn ngạch là 166 euro. / tấn; Sắn củ tươi, sắn lát đông lạnh hoặc ngoài khẩu phần tính thuế 9,5 € / kg).

Hiện nay, ngành sắn Việt Nam vẫn chưa tận dụng được các cơ hội trên để mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước và khu vực đã ký kết các hiệp định thương mại tự do để tận dụng cơ hội được hưởng hạn ngạch thuế quan, mở rộng thị trường xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam.

Do đó, các chuyên gia khuyến nghị đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU nói riêng, thị trường các khu vực đã ký hiệp định thương mại tự do để tận dụng hạn ngạch thuế quan, mở rộng thị trường xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam.

Tuy nhiên, năm 2005, giá trị xuất khẩu của Việt Nam đã vượt qua Philippines và đứng thứ 4/5 nước ASEAN-5. Tại thời điểm này, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 36,62 đô la Mỹ, cao hơn cả Philippines (33,77 tỷ đô la Mỹ). Như vậy, sau 9 năm, Việt Nam chỉ nhảy một bậc trong bảng xếp hạng các nước có giá trị xuất khẩu lớn nhất ASEAN-5.

Xem thêm  Mô tả về chu trình axit citric Đặc điểm và ý nghĩa

Sau đó, Việt Nam lần lượt vọt lên một bậc trong bảng xếp hạng vào các năm 2015, 2017, 2020. Tính đến năm 2020, Việt Nam đã vượt qua Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Vì thế, Sau 24 năm, Việt Nam đã vươn lên từ vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các nước có giá trị xuất khẩu lớn nhất ASEAN-5..

Trong giai đoạn 1996-2021, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 105,69 tỷ đô la Mỹ / năm.

Xuat khau viet nam dung thu may the gioi

Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của 5 nước ASEAN giai đoạn 1996-2021 (tỷ đô la Mỹ). Nguồn: WB.

Năm 2021, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt 339,98 tỷ USD. Theo đó, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ 5 trong các nước ASEAN-5. Sau 25 năm, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 9,5 tỷ USD năm 1996 lên 339,98 tỷ USD năm 2021.

Xuat khau viet nam dung thu may the gioi

Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 1996-2021 (tỷ đô la Mỹ). Nguồn: WB.

Như vậy, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp 35,79 lần sau 25 năm. Việt Nam là quốc gia ghi nhận mức tăng giá trị xuất khẩu lớn nhất trong giai đoạn 1996-2021. Các quốc gia khác tuy có cải thiện nhưng chậm lại như: Indonesia (4,35 lần), Thái Lan (4,12 lần), Malaysia (2,79 lần) và Philippines (2,62 lần).

Như vậy, có thể thấy, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt được những thành tựu quan trọng, trở thành trụ cột của tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 1997, Việt Nam có 7 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 500 triệu đô la Mỹ trở lên (gồm gạo, giày dép, dệt may, dầu thô, cà phê, hàng điện tử, thủy sản); Đến năm 2021, Việt Nam có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ, chiếm 93,8% tổng lượng xuất khẩu, trong đó có 8 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ đô la Mỹ, chiếm 69,7%.

Đồng thời, cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực, từ xuất thô sang xuất khẩu hàng công nghệ, chế biến cao.

Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam trong những năm qua luôn tích cực mở rộng thị trường. Cụ thể, năm 1991, Việt Nam có hơn 20 thị trường xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đến năm 2021, Việt Nam đã phát triển quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và khu vực.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại với tất cả các nước công nghiệp phát triển (G7), các khu vực kinh tế lớn và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính khác. tiền tệ toàn cầu.

Đặc biệt, Việt Nam rất tích cực ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu. Tính đến tháng 12 năm 2021, Việt Nam đã ký 17 hiệp định thương mại tự do.

https://cafef.vn/gia-tri-xuat-khau-tung-xep-thu-5-5-trong-khoi-asean-5-viet-nam-mat-bao-nhieu-nam-de-vuon- lyn-vi-tri-su-1-20220718110811197.chn

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>