Việt bài văn thuyết minh về tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương

Đánh giá của bạn post

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Bài văn Thuyết minh về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm NHỮNG BÀI VĂN MẪU HAY khác tại đây => Văn Mẫu

Là một tác gia nổi tiếng của nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Du luôn được nhiều thế hệ độc giả nhớ đến qua tác phẩm Chuyện người con gái Xương Khúc (Trích Truyền kì mạn lục). Phần thuyết minh tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương dưới đây sẽ cung cấp cho các em học sinh những kiến ​​thức bổ ích, giúp các em tiến bộ hơn trong môn Ngữ văn.

Chủ đề: Thuyết minh tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

Viet bai van thuyet minh ve tac gia nguyen du va chuyen nguoi con gai nam xuong

Thuyết minh tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

I. Dàn ý Thuyết minh tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Chuẩn)

1. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”

2. Cơ thể

Một. Nguồn gốc
– “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong hai mươi truyện của bộ “Truyền kì mạn lục”.

b. Cốt truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”– Nhân vật chính trong truyện là Vũ Nương, một người phụ nữ xinh đẹp, thùy mị, nết na.– Vũ Nương được gả cho Trương Sinh làm vợ. Trong thời gian Trương Sinh đi lính, Vũ Nương hết lòng chăm sóc mẹ già, con thơ, chung thủy chờ ngày chồng trở về.– Vì không có bóng cha nên Vũ Nương thường chỉ vào cái bóng của chính mình trên vách và nói đó là cha Đản.– Trương Sinh trở về, sinh lòng nghi ngờ, đuổi nàng đi.– Vũ Nương gieo mình xuống sông tự tử và được Linh Phi cứu ở thủy cung.

– Đã quá muộn để Trương Sinh hiểu ra sự thật. Chàng khèn cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang, Vũ Nương hiện ra trong bóng mờ mờ ảo rồi mất hút.

C. Giá trị hiện thực và nhân đạo của “Chuyện người con gái Nam Xương”

– Giá trị thực:+ Tác phẩm đã tái hiện số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.+ Tố cáo chiến tranh phi nghĩa

+ Tố cáo xã hội phong kiến ​​đầy bất công.

– Giá trị nhân đạo:+ Ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ+ Lên tiếng đòi quyền được đối xử công bằng, quyền được hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa.

+ Thể hiện sự thương cảm đối với những người phụ nữ rơi vào hoàn cảnh bất hạnh, oan trái.

d. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm– Tình huống truyện độc đáo, bất ngờ– Kể chuyện hấp dẫn– Có nhiều yếu tố thần thoại, kỳ ảo

– Xây dựng thành công nhân vật, từ đó thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

3. Kết luận

– Khái quát về sức sống lâu bền của tác phẩm.

II. Bài văn mẫu Thuyết minh về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Chuẩn)

Nếu kể tên những nhà văn nổi tiếng với thể loại huyền thoại trong thời kì văn học trung đại, chúng ta không thể không nhắc đến Nguyễn Du. Ông là người có học thức, tài cao, là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học trung đại với tác phẩm Truyền Kỳ Mạn Lục. Một trong những câu chuyện góp phần làm nên thành công vang dội của “Truyền kỳ mạn lục” là “Chuyện người con gái Nam Xương”.

“Truyền Kỳ Mạn Lục” là tác phẩm viết bằng chữ Hán, sử dụng nhiều tình tiết kỳ lạ, hoang đường. Tác phẩm này là sự ghi chép rải rác về những câu chuyện kỳ ​​lạ được lưu truyền trên thế giới. Nguyễn Du đã tập hợp và sáng tạo thêm để tác phẩm ngày càng hấp dẫn. Nhân vật chính trong tác phẩm thường là một người phụ nữ có số phận bất hạnh. Ở họ có những đức tính tốt nhưng lại rơi vào cảnh khốn cùng, oan trái. Bên cạnh đó, “Truyền Kỳ Mạn Lục” còn có những nhân vật trí thức giàu tâm huyết nhưng bất mãn với cuộc đời và thời cuộc. “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong hai mươi truyện của tác phẩm nổi tiếng này.

Truyện kể về nhân vật Vũ Nương xinh đẹp, thùy mị nết na, được Trương Sinh gả cho làm vợ. Không lâu sau, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già và con nhỏ, một lòng một dạ chờ đợi ngày chồng trở về. Tưởng rằng hai vợ chồng sẽ đoàn tụ sau bao ngày xa cách, nhưng khi Trương Sinh trở về thì bi kịch của Vũ Nương bắt đầu. Những ngày bình thường, một mình, vì thiếu vắng bóng chồng, bà thường đùa với các con, chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói rằng đó là bố Dần. Với bản tính ghen tuông, đa nghi, lại nghe lời con cái, Trương Sinh “quyết làm dâu bể”, không tin lời giải thích của vợ nên đã đuổi nàng đi. Vũ Nương đến bến Hoàng Giang gieo mình xuống sông tự vẫn. Cô được Linh Phi cứu ở thủy cung. Ở đó, Vũ Nương gặp một người dân làng là Phan Lang. Nàng yêu cầu Phan Lang quay lại thưa chuyện với Trương Sinh, nếu còn tình cũ, nàng sẽ lập bãi bồi ở bến sông rồi nàng sẽ trở về. Trương Sinh biết mình đã kết tội oan cho vợ nên lập đàn minh oan cho nàng, nhưng bóng nàng “mờ mịt, mờ ảo rồi biến mất”. Vũ Nương không được trở lại nhân gian nữa.

Trải qua nhiều thế kỷ, “Chuyện người con gái Nam Xương” vẫn có sức lôi cuốn mạnh mẽ với nhiều thế hệ độc giả nhờ giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Nguyễn Du đã thể hiện số phận bi đát, thất thường của người phụ nữ trong xã hội xưa, tiêu biểu là nhân vật Vũ Nương. Nàng vốn là một cô gái “đoan trang, thục nữ” nhưng cuối cùng nàng cũng chọn cái chết để giữ gìn và bảo vệ danh phận của mình. Khi Trương Sinh đi lính, nàng đã chăm sóc, dạy dỗ các con thơ dại và tận tình phụng dưỡng mẹ chồng, lo ma chay. Một người con dâu hiếu thảo, một người vợ ngoan ngoãn, một người mẹ hết lòng vì con cái đã phải nhận một kết cục bi thảm. Tác giả cũng tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa và sự đối xử bất công của xã hội phong kiến ​​đối với người phụ nữ. Nếu chiến tranh không xảy ra và Trương Sinh không đi lính thì có lẽ Vũ Nương đã có một cuộc sống hạnh phúc bên chồng con. Với bản tính đa nghi, “đối với vợ thì phòng quá”, lại thêm quãng thời gian 3 năm xa cách khiến Trương Sinh càng thêm nghi ngờ về sự chung thủy của vợ. Chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ mà Trương Sinh đã vội nghi ngờ vợ mình. Ngay cả khi những người thân lên tiếng bênh vực Vũ Nương, Trương Sinh vẫn mắng mỏ, đá xéo vợ “ly hương ba năm mới có một nguyệt”. Nếu Trương Sinh không phải là người thất học, đa nghi thì có lẽ số phận của Vũ Nương đã khác. Nếu không vì định kiến ​​trọng nam khinh nữ trong xã hội đương thời, Trương Sinh không có quyền xúc phạm, chà đạp danh dự, nhân phẩm của một người vợ hiền, dâu thảo.

Bên cạnh việc lên tiếng phản đối chiến tranh phi nghĩa, bất công trong xã hội phong kiến, Nguyễn Du còn ca ngợi và trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ. Ở Vũ Nương hội tụ đầy đủ những nét đẹp, phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ đẹp của cô hoàn hảo từ ngoại hình đến tính cách. Là người con dâu, bà tận tình chăm sóc, “làm thuốc thờ thiên tử, khuyên bảo bằng lời ngon tiếng ngọt” và “hết lòng thương người, trong việc ma chay, cúng tế, đối với người. cha mẹ đẻ”. Làm vợ, nàng “biệt ly ba năm, trang điểm trang điểm đã nguôi ngoai lòng người, ngõ trúc liễu hoa chưa từng gót”. Không chỉ vậy, Vũ Nương còn là một người mẹ hết mực yêu thương con cái, chăm sóc và dạy dỗ chúng chu đáo. Thông qua nhân vật Vũ Nương, tác giả cũng đã lên tiếng đòi quyền được đối xử công bằng, quyền hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa. Ngoài ra, anh cũng bày tỏ sự cảm thông với những người phụ nữ rơi vào hoàn cảnh bất hạnh, oan trái. Chẳng thế mà chàng lại giải oan cho Vũ Nương và để nàng “ngồi trên kiệu đứng giữa dòng, theo sau là năm mươi cỗ xe cờ rợp trời, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện” để nói. với Trương Sinh: “Cảm ơn tình yêu của chàng, ta không thể trở lại nhân gian được nữa”.

“Chuyện người con gái Nam Xương” hấp dẫn người đọc không chỉ bởi tình huống truyện độc đáo, bất ngờ, cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn mà còn bởi những yếu tố hoang đường, kì lạ. Nguyễn Du đã xây dựng thành công những nhân vật mà qua đó có thể gửi gắm những tư tưởng nhân văn của mình.

Có thể nói, dù lớp bụi thời gian đã phủ mờ đi mọi thứ nhưng “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ vẫn có sức sống bền bỉ cho đến ngày nay. Đây thực sự là một tác phẩm văn học tiêu biểu của thời kì trung đại của nền văn học Việt Nam, tiêu biểu cho tấm lòng nhân đạo của nhà văn Nguyễn Du.

——————KẾT THÚC——————

https://thuthuat.taimienphi.vn/thuyet-minh-ve-tac-pham-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-66203n.aspx
Để có cái nhìn toàn diện và chuyên sâu hơn về tác phẩm, bên cạnh bài bình luận về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, các bạn có thể tham khảo thêm các bài soạn sau: Suy nghĩ về cái chết của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam XươngPhân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương, Suy nghĩ về cái chết của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam XươngÝ nghĩa của cái bóng trong truyện Người con gái Nam Xương.

Bạn thấy bài viết Bài văn Thuyết minh về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Bài văn Thuyết minh về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website https://hubm.edu.vn/

#Bài #văn #Thuyết #minh #về #tác #phẩm #Chuyện #người #con #gái #Nam #Xương

Văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương, Để giúp cho các bạn học sinh có thể củng cố lại kiến thức môn Ngữ văn lớp 9 của

Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn nổi tiếng của Việt Nam với những câu chuyện Truyền kỳ mạn lục, và trong số tác phẩm nổi bật của ông không thể không nhắc đến Chuyện người con gái Nam Xương.

Bạn Đang Xem: Văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương

Viet bai van thuyet minh ve tac gia nguyen du va chuyen nguoi con gai nam xuong

Để cho các bạn học sinh có thể hiểu hơn về tác phẩm văn học lớp 9 này, cũng như bổ sung thêm nhiều cách viết văn thuyết minh, thì sau đây chúng tôi xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo 5 bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương.

Thuyết minh về Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 1

Nguyễn Dữ là 1 văn sĩ, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Ông là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Truyền kỳ mạn lục (in 1768).

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn.

Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài “ghi chép” để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật… nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XV.

Xem thêm  Thì dụ 1 viên bi m 1 4 kg chuyển động vớivận tốc v 1 5 m/s và vào viên bi m 2 6 kg và dínhvào viên

Theo Bùi Duy Tân và một số học giả viết lời tựa cho các bản dịch Truyền kỳ mạn lục lưu tới ngày nay có ghi lại:

“Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Truyền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các chuyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những chuyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép chuyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục… mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ… tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những chuyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái.

Thuyết minh về Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 2

Tác giả Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thế kỉ XVI, là người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Thời ông sống, triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng suy thoái, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực gây ra liên tiếp các cuộc nội chiến kéo dài. Có giả thiết cho rằng ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông, bản thân ông cũng là người học rộng, tài cao nhưng giống như nhiều trí thức đương thời, ông chỉ làm quan một năm rồi xin về quê ẩn dật. Trước tác của ông có tác phẩm tiếng Hán nổi tiếng Truyền kì mạn lục (Ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được lưu truyền), một tác phẩm thể hiện quan niệm sống và tấm lòng của ông trước cuộc đời.

“Chuyện người con gái Nam Xương” là tác phẩm được rút trong tập truyện Truyền kì mạn lục của tác giả. Đây là một trong hai mươi truyện của tập sách này. Tác phẩm ghi lại cuộc đời thảm thương của Vũ Nương, quê ở Nam Xương (thuộc tỉnh Hà Nam) ngày nay.

Vũ Thị Thiết – người con gái quê ở Nam Xương thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Chàng Trương Sinh mến vì đức hạnh xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Chẳng bao lâu Trương Sinh phải đi lính. Nàng đang có mang, xa chàng vừa đầy tuần thì sinh ra đứa con trai đặt tên là Đản, nửa năm sau, mẹ chàng vì già yếu và nhớ thương con mà lâm bệnh. Vũ Nương hết lòng săn sóc, cơm cháo thuốc men, mẹ chồng qua đời, nàng lo ma chay tế lễ như đối với cha mẹ mình. Qua năm sau, giặc đã chịu lui, Trương Sinh trở về. Con trai đã vừa học nói nhưng chỉ vì câu nói ngây thơ của đứa con đã dẫn đến Trương Sinh hiểu lầm rằng vợ mình đã thay lòng đổi dạ. Trương Sinh nhiếc mắng, đuổi nàng đi. Nàng thanh minh cho mình, rồi hàng xóm bênh vực nhưng không được. Trước cảnh đau buồn đó Vũ Nương đã nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Nàng chết rồi, một hôm Trương Sinh ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya chợt đứa con nói: “Cha Đản lại đến kìa” rồi chỉ cái bóng trên tường. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ, biết vợ mình chết oan. Lại nói về chuyện Phan Lang đã cứu Linh Phi, là vợ vua biển Nam Hải. Thế rồi Phan Lang không may đắm thuyền chết, được Linh Phi cứu giúp, chữa trị, đền ơn. Trong cuộc hành trình thăm động của Linh Phi, Phan Lang tình cờ gặp Vũ Nương. Nàng gửi về cho chồng một chiếc hoa vàng và dặn chồng con nhớ làm đàn giải oan… Phan Lang trở về kể chuyện cho Trương Sinh. Vũ Nương hiện lên đa tạ tình chàng nhưng nàng không thể trở về trần gian được.

Chuyện người con gái Nam Xương nói lên sự xót thương với những người phụ nữ tài sắc, đức hạnh mà chết oan trong bi kịch gia đình. Vũ Nương là một phụ nữ đảm đang, hiếu thảo, một mình nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ già. Cái chết của Vũ Nương có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc, lên án chiến tranh phong kiến đã làm cho hạnh phúc lứa đôi phải ly biệt, người vợ trẻ sống vất vả, cô đơn, lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc. Vì lẽ đó, Chuyện người con gái Nam Xương có giá trị nhân bản sâu sắc.

Với nghệ thuật điêu luyện, bố cục chặt chẽ, chi tiết hoang đường, li kì, hấp dẫn, dùng chi tiết gợi mở, thắt nút cởi nút câu chuyện tài tình, giải quyết câu chuyện nhanh chóng, bất ngờ, kết thúc có hậu,… Chuyện người con gái Nam Xương đã khẳng định được nét đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời thể hiện niềm cảm thương cho số phận nhỏ nhoi, đầy tính chất bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến. Đây là một áng văn hay, thành công về mặt dựng truyện, dựng nhân vật, kết hợp cả tự sự, trữ tình và bi kịch. Tuy mang yếu tố hoang đường, nhưng chuyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Qua “Truyền kì mạn lục”, người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ

Thuyết minh về Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 3

Xem Thêm : Đề thi thử vào lớp 10 năm học 2018 – 2019 trường THCS Thái Hòa, Thái Bình

Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XVI. Đây là thời kì xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều biến động và khủng hoảng. Giống như nhiều trí thức khác của thời đại mình, Nguyễn Dữ chán nản và bi phẫn trước thời cuộc. Vì thế, sau khi đỗ Hương Cống, ông chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về ở ẩn.

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kì ở Việt Nam. Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương là một trong 20 tác phẩm của Truyền kì mạn lục. Qua cuộc đời của Vũ Nương, Nguyễn Dữ tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm tan vỡ hạnh phúc lứa đôi, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc với khát vọng hạnh phúc cũng như bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa. Tác phẩm cũng là sự suy ngẫm, day dứt trước sự mong manh của hạnh phúc trong kiếp người đầy bất trắc. Tác phẩm cho thấy nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật già dặn. Sự đan xen thực ảo một cách nghệ thuật, mang tính thẩm mĩ cao. Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Truyện đã thể hiện được sự phối hợp hài hòa giữa chất hiện thực (câu chuyện được lưu truyền trong dân gian) với những nét nghệ thuật đặc trưng của thể loại truyền kì (yếu tố kì lạ hoang đường).

Giá trị nội dung của tác phẩm được thể hiện ở hai khía cạnh: Hiện thực và nhân đạo. Hiện thực thứ nhất trong tác phẩm là số phận bi kịch của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương. Vốn là người con gái xuất thân từ tầng lớp bình dân nhưng thùy mị, nết na; tư dung tốt đẹp. Khi chồng đi lính, Vũ Nương một mình vừa chăm sóc, thuốc thang ma chay cho mẹ chồng vừa nuôi con, đảm đang, tận tình, chu đáo. Để rồi khi chàng Trương trở về, chỉ vì câu nói ngây thơ của bé Đản mà Trương Sinh đã nghi ngờ lòng thủy chung của vợ. Từ chỗ nói bóng gió xa xôi, rồi mắng chửi, hắt hủi và cuối cùng là đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà, Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương tới bước đường cùng, bế tắc, phải chọn cái chết để tự minh oan cho mình. Hiện thực thứ hai được phản ánh là xã hội phong kiến với những biểu hiện bất công vô lý. Đó là một xã hội dung túng cho quan niệm trọng nam khinh nữ, để cho Trương Sinh – một kẻ thất học, vũ phu ngang nhiên chà đạp lên giá trị nhân phẩm của người vợ hiền thục nết na. Hành động ghen tuông của Trương Sinh là hệ quả của một loại tính cách – sản phẩm của xã hội đương thời.

Giá trị nhân đạo thể hiện ở các khía cạnh: ngợi ca, tôn trọng vẻ đẹp của người phụ nữ thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương. Xuất thân từ tầng lớp bình dân nhưng ở Vũ Nương đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, theo quan điểm Nho giáo (tam tòng, tứ đức). Tác giả đã đặt nhân vật trong các mối quan hệ để làm toát lên vẻ đẹp ấy. Với chồng: nàng là người vợ hiền thục. Với con: nàng là người mẹ dịu dàng, giàu tình yêu thương. Với mẹ chồng: nàng đã làm tròn bổn phận của một người con dâu hiếu thảo. Những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương còn được thể hiện ngay cả khi nàng sống cuộc sống của một cung nữ dưới thủy cung: Sẵn sàng tha thứ cho Trương Sinh, một mực thương nhớ chồng con nhưng không thể trở về vì đã nặng ơn nghĩa đối với Linh Phi… Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng, từ đó khắc họa thành công hình tượng nhân vật người phụ nữ với đầy đủ những phẩm chất đẹp. Câu chuyện còn đề cao triết lí nhân nghĩa ở hiền gặp lành qua phần kết thúc có hậu giống như rất nhiều những câu chuyện cổ tích Việt Nam. Với đặc trưng riêng của thể loại truyện truyền kì, Nguyễn Dữ đã sáng tạo thêm phần cuối của câu chuyện. Vũ Nương đã không chết, hay nói đúng hơn, nàng được sống ở cõi khác bình yên và tốt đẹp hơn đó là chốn thủy cung. Qua đó có thể thấy rõ ước mơ của người xưa (cũng là của tác giả) về một xã hội công bằng, tốt đẹp mà ở đó con người sống và đối xử với nhau bằng lòng nhân ái, ở đó nhân phẩm của con người được tôn trọng. Oan thì phải được giải, người hiền lành lương thiện như Vũ Nương phải được hưởng hạnh phúc.

Xem thêm  Liên minh châu Âu (EU có những đặc điểm gì)

Bên cạnh giá trị nội dung, tác phẩm còn được đánh giá cao ở phương diện nghệ thuật. Đây là một tác phẩm được viết theo lối truyện truyền kì, tính chất truyền kỳ được thể hiện qua kết cấu hai phần: Vũ Nương ở trần gian, Vũ Nương ở thủy cung. Với kết cấu hai phần này, tác giả đã khắc họa được một cách hoàn thiện vẻ đẹp hình tượng nhân vật Vũ Nương. Mặt khác, kết cấu hai phần ở “Chuyện người con gái Nam Xương” đã góp phần thể hiện khát vọng về lẽ công bằng trong cuộc đời (ở hiền gặp lành). Chất hoang đường kì ảo cuối truyện cũng làm tăng thêm ý nghĩa phê phán đối với hiện thực: dù oan đã được giải những người đã chết thì không thể sống lại được. Do đó, bài học giáo dục đối với những kẻ như Trương Sinh càng thêm sâu sắc hơn. Ngoài ra còn phải kể đến nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ, độc đáo nhưng hợp lý tạo tính kịch trong câu chuyện mà yếu tố thắt nút và gỡ nút của tấm kịch ấy chỉ là câu nói của một đứa trẻ lên ba với chi tiết cái bóng.

Tác phẩm thực sự là áng văn mẫu mực tiêu biểu cho Truyền kì của Nguyễn Dữ, sống mãi trong lòng người đọc bởi chất hiện thực sinh động và tấm lòng nhân đạo tha thiết của tác giả.

Thuyết minh về Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 4

Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm văn xuôi có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỉ XVI, một tập truyện văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Hán ở Việt Nam.

“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tác phẩm truyền kì mạn lục là một tác phẩm hay trong tập truyện đó. Nhân vật chính là vũ nương, một phụ nữ đẹp người, đẹp nết đã phải lấy cái chết để minh oan trước sự ghen tuông vô cớ của chồng mình.

Có thể nói Nguyễn Dữ là tác giả văn xuôi tiêu biểu của văn học cổ thế kỉ XVI. Hình ảnh người con gái Nam Xương là nhân vật từng có ảnh hưởng sâu sắc đến lòng người mọi thời. Lê Thánh Tông đã từng xúc động viết trong bài thơ “miếu vợ chàng Trương”:

“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương… “

Câu chuyện về Vũ Nương phản ánh cuộc đời đau khổ và bi thảm của Vũ nương – người phụ nữ dưới chế độ xã hội phong kiến. Người vợ phải tự vẫn để minh oan cho sự thuỷ chung của mình. Tác phẩm nêu cao chủ nghĩa nhân đạo khiến ta xúc động khi về nhân vật Vũ Nương trong truyện.

Trước hết, đọc truyện, người đọc càng thương cho thân phận Vũ Nương và dễ dàng nhận thấy được Vũ Nương là một người phụ nữ nết na, đức hạnh, đối xử với mẹ chồng và chồng rất phải đạo và là người vợ rất mực đảm đang, nhân hậu, giàu đức khiêm tốn.

Có tư dung tốt đẹp, nhưng trong cuộc sống gia đình, nàng can tâm làm một người vợ hiền, ngoan nết “chẳng lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”, và cho dù Trường Sinh, chồng của nàng, tuy là con nhà hào phú, lại ít học, đa nghi quá sức.

Sự khiêm nhường, cam chịu của Vũ Nương là điều kiện tạo nên sự đầm ấm của gia đình, mặc cho chế độ nam quyền độc đoán đè nặng trong đầu óc kẻ vị kỷ ít học như chồng mình.

Nếu lấy sự kiện ngày Trường Sinh đi lính thú thì hạnh động và lời lẽ đưa tiễn chồng của người vợ hiền, lời thiết tha cầu mong của Vũ Nương: “Chẳng mong chàng áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được hai chữ bình yên thế là đủ rồi”…, “thư tính, nghìn hàng, áo rét gửi người ải xa…”, ” là chi tiết cho cái “công-dung-ngôn-hạnh” mà Vũ Nương đã làm được một cách chân thành.

Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự cô đơn, giữ mình của người vợ trẻ càng khiến chúng ta phải ca ngợi con người nhân hậu và đảm đang đó. Tính cách cao đẹp của Vũ Nương còn là lòng hiếu thảo với mẹ chồng, lòng chung thuỷ son sắt với chồng của nàng.

Xem Thêm : Đề thi học kì 1 môn Toán, Tiếng Việt lớp 5 năm 2017-2018 theo Thông tư 22

Khi chồng vào lính, Vũ Nương một mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm sóc thuốc thang cho mẹ chồng đau yếu, làm ma chay tống tang khi mẹ chồng qua đời. Vũ nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ trọn tình nghĩa vợ chồng.

Cái thói đời xưa nay thường không thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng dâu, nhất là trong gia đình phong kiến. Thế nhưng, dù chỉ có hai mẹ con sống với nhau (Vũ Nương với mẹ chồng) nhưng nàng xem mẹ chồng như mẹ đẻ, điều đó còn được thể hiện qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước khi bà qua đời: “xanh kia sẽ chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ… “

Rồi sự chu đáo của Vũ Nương trong việc ma chay, cúng lễ đã thể hiện tấm lòng thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung thuỷ của Vũ Nương còn được thể hiện ở hành động nuôi con, chờ chồng suốt những tháng ngày Trương Sinh đi lính mà chưa rõ mặt con. Chỉ có hai mẹ con côi cút đùm bọc, gắn bó. Cậu Bé Đản thơ ngây, đêm đến được mẹ chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là cha (đó là một cách dỗ dành con ngủ thật hồn nhiên nhưng sau đó lại là nguyên nhân gây ra cái tội thật vô tình).

Nỗi hàm oan không được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người độc đoán, phàm phu lại kém văn hoá như Trương Sinh khi chàng ra lính trở về (nghe lời đứa con non dại) đã gây nên nỗi oan tày trời cho Vũ Nương. Bị chồng ghen tuông vô cớ, bao nhiêu lời giãi bày của vũ Nương và lời khuyên ngăn của láng giềng, bà con, cô bác, trương Sinh vẫn không tin và đinh ninh là “vợ hư” , mối nghi ngờ càng ngày càng lún sâu không có cách gì gỡ ra được. Chàng mắng nhiếc vợ thật thậm tệ rồi “đánh đuổi nàng đi”. Vũ Nương không hề có lỗi lầm gì, nàng thuỷ chung, trinh trắng, đức hạnh vẹn toàn nhưng sự đối xử của chồng làm cho nàng hoàn toàn thất vọng, không hiểu nỗi oan khuất từ đâu mà ra. Không có cách nào để giãi bày, thất vọng bởi hạnh phúc – niềm vui “nghi gia nghi thất” không còn nữa, nàng phải tìm đến cái chết để minh oan. Hành động tự vẫn là thái độ cuối cùng nàng được phép bởi không thể giải bày được với chồng, tiết hạnh của nàng sẽ bị hoen ố, biết bao giờ phai mờ đi trong tâm trí của chồng.

Một người vợ hiền lành, đầy tiết nghĩa, thuỷ chung phải chết dẫu không có tội tình gì. Mãi đến sau cái chết đó, người chồng mới hiểu nỗi oan ức của vợ mình. chính sự độc đoán của người đàn ông trong gia đình Phong kiến mà Nho giáo nuôi dưỡng dung túng là đề tài mà Nguyễn Dữ muốn phê phán.

Bởi không chỉ hình ảnh nhân vật Vũ Nương, mà còn biết bao thân phận phụ nữ “Bảy nổi, ba chìm” đã phải sống trong cảnh đời như vậy:

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Thuyết minh về Nguyễn Dữ và Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 5

Nguyễn Dữ quê ở huyện Thanh Miện thuộc tỉnh Hải Dương là một trong những học trò giỏi của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sống trong xã hội loạn lạc, chế độ phong kiến thối nát, sau một năm làm quan, ông trở về quê nuôi mẹ già, đóng cửa viết sách.

Ông để lại một số thư và cuốn Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán. Đây là cuốn văn xuôi cổ gồm 20 truyện, mang yếu tố hoang đường, cốt truyện lưu truyền trong dân gian. Phần lớn là nhân vật phụ nữ tài sắc mà bất hạnh, một ít là trí thức phong kiến sống gần gũi với nhân dân, 19 trong 20 truyện có lời bình. Truyền kì mạn lục là áng văn xuôi cổ giàu giá trị nhân đạo và có tính nhân dân, sâu sắc.

Về Chuyện người con gái Nam Xương rút trong tập Truyền kì mạn lục:

Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp. Chàng Trương Sinh mến vì dung hạnh xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Chẳng bao lâu sau Trương Sinh phải đi lính đánh giặc Chiêm. Vũ Nương rót chén rượu đầy, tiễn chồng mà rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên… .

Nàng đang có mang, xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra đứa con trai đặt tên là Đản. Nửa năm sau, mẹ chồng vì già yếu và nhớ thương con đi lính, rồi lâm bệnh. Vũ Nương hết lòng săn sóc, cơm cháo thuốc men. Mẹ chồng qua đời, nàng thương xót lo ma chay tế lễ như đối với cha mẹ đẻ mình.

Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, Trương Sinh được trở về. Con trai vừa học nói. Chàng bế con thơ đi thăm mồ mẹ. Đứa con quấy khóc, Trương Sinh hết sức dỗ dành. Con ngây thơ nói: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư. Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít. Chàng gặng hỏi, đứa con mới cho hay “có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn tính hay ghen, đinh ninh là vợ hư, la um cho hả giận, nhiếc mắng đuổi đi. Nàng khóc lóc phân trần, họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, Trương Sinh cũng chẳng nghe. Trước cảnh bình rơi trâm gãy, Vũ Nương đã nhảy xuống sông Hoàng Giang với lời nguyền: “nếu đoan trang” vào nước xin làm Ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ…”. Nàng chết rồi, một hôm Trương Sinh ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại đến kia kìa!”. Bây giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ, biết vợ mình đã bị chết oan!

Lại nói về chuyện Phan Lang trước làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang, một đêm chiêm bao thấy người con gái áo xanh, đến xin kêu tha mạng. Sáng dậy, có người phường chài đem biếu một con rùa mai xanh. Chợt nghĩ đến chuyện chiêm bao, Phan Lang bèn thả con rùa. Sau đó, Phan Lang chạy loạn, đắm thuyền, thấy dạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi nhìn thấy nói rằng: “Đây là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa” rồi lấy khăn dấu mà lau, thuốc thần mà đổ, Phan Lang được cứu sống. Linh Phi là vua biển Nam Hải mở tiệc thiết đãi ân nhân mình. Có vô số mỹ nhân quần áo thướt tha, mái tóc dài đến dự tiệc.

Trong số đó có một thiếu phụ xinh đẹp chỉ điểm một chút son phấn rất giống Vũ Nương. Tiệc xong, người đàn bà ấy nói với Phan Lang: “Tôi với ông vốn người cùng làng, cách mặt chưa bao, đã quên nhau rồi ư?”- Nghe kể đến chuyện làng quê Vũ Nương khóc. Nàng gửi về một chiếc hoa vàng và dặn chồng con nhớ làm đàn giải oan, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước thì nàng sẽ trở về…

Linh Phi sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan Lang ra khỏi Cung nước, về đến nhà, Phan Lang kể lại chuyện gặp Vũ Nương và trao lại chiếc hoa vàng. Trương Sinh bèn lập đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Có năm mươi chiếc xe cờ tán võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện. Trương Sinh thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, nói vọng vào: “… Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa…” – Bóng nàng mờ nhạt dần mà biến mất.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>