Ví dụ về chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Đánh giá của bạn post

Chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật là hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ do pháp luật xác lập, được coi là hành vi vi phạm pháp luật. Người đang sở hữu, sử dụng tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Việc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật nên được hiểu là việc tạo lập quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản thuộc đối tượng tài sản nhưng không dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Người có hành vi chiếm đoạt tài sản không biết tài sản đó thuộc sở hữu của người khác mà coi đó là của mình.

Vi du ve chiem huu khong co can cu phap

Phân biệt giữa chiếm hữu không có quyền sở hữu hợp pháp và sử dụng tài sản không có quyền sở hữu hợp pháp

Tiêu chuẩn Chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật Sử dụng tài sản không có cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý Khoản 1 Điều 579 BLDS 2015 Khoản 2 Điều 579 BLDS 2015
Ý tưởng Hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ do pháp luật xác lập là vi phạm pháp luật. Người đang sở hữu, sử dụng tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Việc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật nên được hiểu là việc tạo lập quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản thuộc đối tượng tài sản nhưng không dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Người có hành vi chiếm đoạt tài sản không biết tài sản đó thuộc sở hữu của người khác mà coi đó là của mình.
Cơ sở của tuổi dậy thì Do oan sai chiếm đoạt tài sản của hội đồng quản trị hoặc chiếm đoạt tài sản của người khác ngay tình. Chủ thể không biết hoặc không biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật Phải có thiệt hại tài sản CSH

Lợi dụng tài sản không có căn cứ pháp luật

Người được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

nghĩa vụ

Khoản 1 và khoản 2 Điều 581.

Người sở hữu, sử dụng tài sản không bị thiệt hại phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu trong trường hợp tài sản được phát hiện hoặc chủ sở hữu, người sử dụng biết hoặc biết mình đang sở hữu tài sản của người khác.

Khi trả lại tài sản, chủ sở hữu không có căn cứ pháp luật nhưng nếu có thiện chí thì phải trả lại tiền, lợi tức có được từ thời điểm biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng đó là không có căn cứ. Nếu người này cố ý chiếm hữu, sử dụng tài sản thì phải hoàn trả, lợi tức có được từ tài sản đó kể từ thời điểm chiếm hữu và bồi thường thiệt hại nếu có.

Việc chiếm hữu và sử dụng không đúng cách phải giải quyết hậu quả cho chủ sở hữu tài sản. Ngoài việc trả lại tình trạng ban đầu cho tài sản, còn phải trả cổ tức và lợi tức thu được từ tài sản đó trong thời gian chiếm hữu, sử dụng. Nếu chiếm hữu, sử dụng mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản thì phải bồi thường thiệt hại.

Khoản 1 và khoản 2 Điều 581.

Người thụ hưởng phải trả lại lợi nhuận mà mình đã nhận, và lợi ích phải trả là lợi ích thực tế mà người thụ hưởng hoặc lợi nhuận nhận được tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ. Lợi nhuận thực hiện trước thời điểm nghĩa vụ phát sinh không được hoàn trả.

– Tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán, nếu giá trị của tài sản bị giảm sút so với ban đầu. Nếu người được hưởng lợi sử dụng tài sản trong thời gian chiếm hữu tài sản hoặc do vô ý làm hư hỏng tài sản thì người được hưởng lợi phải trả lại phần tài sản còn lại và bồi thường thiệt hại. Nếu tài sản bị hư hỏng, mất mát thì phải bồi thường bằng tiền, giá trị bồi thường được tính tại thời điểm thanh toán.

– Đối với số tiền thu được, lợi nhuận thu được do sử dụng tài sản: Khi tài sản được trả lại, người được hưởng lợi không phải trả lại số tiền hoa lợi, lãi đó. Việc chuộc lại chỉ được yêu cầu nếu thu nhập hoặc lợi tức đó đã có được từ thời điểm biết hoặc phải biết lãi từ tài sản của người khác.

Ví dụ Trên đường đi làm về, anh ta nhặt được chiếc điện thoại của SONY, không báo cơ quan địa phương để tìm chủ nhân. Anh lấy lại và đưa lại cho anh C thì anh C nghĩ đây là điện thoại của anh A nên anh C đã nhặt, do điện thoại có chức năng định vị toàn cầu GPS nên anh B đã tìm được và đến nhà anh C. để yêu cầu trả lại điện thoại.

Trong trường hợp này, anh C nên trả lại điện thoại cho anh B.

Anh B trộm trâu của nhà anh A, anh B đem bán lại cho anh A. Ông C mua về nuôi, một năm sau con trâu cái sinh được một con nghé. Anh A đến nhà A ăn cơm thì phát hiện con trâu của C là của mình. Anh A yêu cầu anh C trả lại con trâu cho mình.

Trong trường hợp này, anh C là người được hưởng tài sản. Nhưng anh C chỉ phải trả lại trâu cho anh A chứ không phải bê.

Xem thêm  Cơ chế phát sinh đột biến chuyển đoạn là

Các bài viết cùng chủ đề Việc phân biệt chiếm hữu và sử dụng tài sản không có cơ sở pháp lý:

Phân biệt nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ bổ sung trong dân sự

Phân biệt giữa hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về nó Không có cơ sở pháp lý để phân biệt giữa chiếm hữu và sử dụng tài sản. Mọi thắc mắc, vướng mắc cần tư vấn, Quý khách vui lòng liên hệ SĐT: để được tư vấn, hỗ trợ pháp luật miễn phí.

Chiếm hữu là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự. Có hai loại sở hữu tốt và xấu. Vậy sở hữu tức thời là gì?

Định nghĩa chiếm hữu hợp pháp trong luật dân sự

Các quy định liên quan đến chiếm hữu được nêu trong Chương 12 của Bộ luật Dân sự. Trường hợp chiếm hữu là việc cá nhân, tổ chức (chủ thể) chiếm hữu, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tài sản nhất định như thể người đó có quyền đối với tài sản đó (căn cứ khoản 1 Điều 179 của Bộ luật này). ).

Trong đó, theo khoản 2 Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015, chiếm hữu bao gồm:

Sở hữu của chủ sở hữu.

Chiếm hữu của một người không phải là chủ sở hữu của tài sản. Đây không phải là căn cứ để xác lập quyền tài sản của chủ sở hữu.

Đồng thời, chiếm hữu cũng được chia thành chiếm hữu công bằng, chiếm hữu không trung thực, chiếm hữu liên tục và chiếm hữu công khai.

Đối với việc chiếm hữu hợp lệ, Điều 180 Bộ luật Dân sự hiện hành quy định như sau:

Chiếm hữu ngay tình là chiếm hữu mà người chiếm hữu có lý do để tin rằng mình có quyền chiếm hữu tài sản.

Trong khi đó, theo quy định cũ tại Điều 189 BLDS năm 2005 (đã hết thời hạn) thì chiếm hữu hợp lệ được xác định là:

Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là chủ sở hữu mà không biết hoặc không biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.

Có thể thấy, so với những quy định cũ trong BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã có định nghĩa rõ ràng và cụ thể hơn về tài sản có giá trị pháp lý.

Xem thêm  Quyết định nào của Hội nghị Ianta tháng 2 năm 1945

Nếu người có tài sản ngay tình mà theo quy định cũ là người không biết hoặc không biết thì việc chiếm hữu đó là không có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định mới, chủ sở hữu ngay tình chỉ cần có lý do cho rằng mình có quyền đối với tài sản mua được thì được coi là tài sản ngay tình.

Ví dụ: Nhặt một chiếc máy tính xách tay mà ai đó để quên và bán nó ở một cửa hàng bán máy tính xách tay. Sau đó, B đến cửa hàng đó để mua một chiếc máy tính xách tay và mua chính chiếc máy tính xách tay mà A đang bán, trong trường hợp này, B là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc máy tính xách tay đó.

Vi du ve chiem huu khong co can cu phap luat

Quyền sở hữu tức thời là gì? (Làm rõ)

Sự khác biệt giữa tốt và lừa dối

Chiếm hữu và không trung thực là hai khái niệm thường bị nhầm lẫn. Các tiêu chí để phân biệt giữa hai khái niệm này được đưa ra dưới đây.

Tiêu chuẩn

Nắm bắt tình yêu

sở hữu bất hợp pháp

Cơ sở

Điều 180 Bộ luật Dân sự năm 2015

Điều 181 Bộ luật Dân sự 2015

Định vị

Chiếm hữu Chủ sở hữu có lý do để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang được giữ

Chiếm hữu mà chủ sở hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang giữ

bản chất nóng nảy

Chủ sở hữu có lý do để tin rằng mình có quyền đối với tài sản

Chủ sở hữu biết hoặc nên biết rằng mình không có quyền đối với tài sản nhưng vẫn sở hữu tài sản đó

Lý do trở thành chủ sở hữu tài sản

Sở hữu quyền, trên cơ sở liên tục, công khai

Tài sản: 10 năm

Bất động sản: 30 năm

– sở hữu bất hợp pháp

– Bạn không trở thành chủ sở hữu của tài sản mà phải trả lại cho người có quyền hoặc cho cơ quan chính phủ

Nghĩa vụ hoàn trả lợi nhuận và lợi tức

Việc hoàn trả phải được thực hiện khi biết hoặc nên biết rằng việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp có lý do để trở thành chủ sở hữu của tài sản nêu trên.

Anh ta nên trả lại khi anh ta biết hoặc nên biết rằng việc chiếm hữu không có cơ sở pháp lý

Suy đoán về sở hữu

Một người chủ tốt phải là người chính trực

Những người nghĩ rằng chủ sở hữu không chung thủy phải chứng minh điều đó

Dưới đây là các quy tắc về Sở hữu tức thời là gì? Nếu bạn còn thắc mắc nào khác, hãy gửi cho chúng tôi để được giải đáp.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>