Văn phòng đại diện chuyển tiền ra nước ngoài

Đánh giá của bạn post

Hiện nay, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài là một trong những hình thức kinh doanh hiện diện tại Việt Nam ngày càng được các thương nhân nước ngoài lựa chọn do hoạt động và chức năng đơn giản. Đó là việc nghiên cứu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại được pháp luật Việt Nam cho phép. Theo đó, Luật Thương mại năm 2005 quy định văn phòng đại diện không được phép thực hiện các hoạt động sinh lời trực tiếp tại Việt Nam, đồng nghĩa với việc văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài sẽ không tạo ra bất kỳ nguồn thu hợp pháp nào từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, văn phòng đại diện cũng cần mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại Việt Nam vì những lý do sau:

1. Thanh toán các chi phí hoạt động của Văn phòng đại diện

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Thương mại năm 2005, văn phòng đại diện có các quyền cơ bản sau đây:

  • Thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại được pháp luật Việt Nam cho phép;

  • Thuê văn phòng hoặc thuê, mua các phương tiện, vật tư cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện.

  • Tuyển người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại các văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Như vậy, dù văn phòng đại diện không phát sinh doanh thu nhưng trong quá trình hoạt động sẽ có nhiều khoản chi phí liên quan đến hoạt động của văn phòng đại diện phải nộp như tiền lương, bảo hiểm xã hội …, thuế thu nhập cá nhân của người lao động, tiền thuê văn phòng. chi phí, chi phí phương tiện, vật tư phục vụ hoạt động của văn phòng Văn phòng và các chi phí khác có liên quan. Vì vậy, Văn phòng đại diện cần có tài khoản vãng lai tại Việt Nam để thuận tiện cho việc thanh toán các chi phí phát sinh trong hoạt động của Văn phòng đại diện và đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối tại Việt Nam.

2. Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam

Chi phí văn phòng đại diện nêu trên chủ yếu phát sinh từ các giao dịch tại Việt Nam và với các cá nhân, tổ chức cư trú tại Việt Nam. Theo quy định về hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, không phải mọi giao dịch, thanh toán của người cư trú đều được thực hiện bằng ngoại tệ. Theo đó, để hoàn trả các chi phí hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật về ngoại hối và hạch toán hợp lệ vào chi phí của Văn phòng đại diện, Văn phòng đại diện phải có tài khoản vãng lai riêng tại Việt Nam để nhận tiền (ngoại hối) từ công ty mẹ ở nước ngoài. Sau đó, khi có nhu cầu thanh toán các chi phí hoạt động của văn phòng đại diện, tài khoản thanh toán của văn phòng đại diện sẽ được sử dụng để thanh toán bằng Đồng Việt Nam. Hiện có một số văn phòng đại diện vẫn chưa có khoản phải trả riêng mà nộp trực tiếp từ công ty mẹ vào tài khoản của cá nhân, tổ chức tại Việt Nam để trang trải chi phí hoạt động của văn phòng đại diện. Đối mặt. Vì vậy, trong khi pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định rõ ràng việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán của văn phòng đại diện không bị hạn chế và khó khăn như trước đây, thì các văn phòng đại diện này phải chú ý tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật Việt Nam để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra đối với văn phòng đại diện ngoài Nhân viên nhận chi phí trực tiếp từ công ty mẹ.

3. Dễ dàng hơn cho thương nhân nước ngoài trong việc theo dõi và quản lý chi phí của văn phòng đại diện tại Việt Nam

Như đã đề cập ở trên, việc văn phòng đại diện mở tài khoản thanh toán không chỉ đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về ngoại hối mà các khoản thanh toán sẽ được ghi nhận hợp lệ vào sổ chi phí của văn phòng đại diện. Nhưng công ty mẹ ở nước ngoài cũng dễ dàng quản lý và giám sát hiệu quả hơn chi phí hoạt động của văn phòng đại diện tại Việt Nam thông qua hệ thống ngân hàng trực tuyến và các phương tiện khác. Ngoài các vấn đề nêu trên, VPĐD cũng phải lưu ý rằng tài khoản thanh toán của VPĐD sẽ không được phép nhận bất kỳ khoản thanh toán nào của đối tác Việt Nam thay mặt cho công ty mẹ. Chúng chỉ được sử dụng để điều hành Văn phòng đại diện.

Xem thêm  Có bao nhiêu số tự nhiên có 4 chữ số chia hết cho 6

Với những lý do trên cùng với bài 02/2019 / TT-NHNN

Sửa đổi, hoàn thiện một số điều của Thông tư số 23/2014 / TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán kể từ ngày 01/02/2014. tổ chức không có tư cách pháp nhân như văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài để mở và sử dụng chúng. Theo đó, thủ tục thực hiện sẽ đơn giản hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các trụ sở chính trong việc mở các khoản phải trả cho chính mình. Do đó, văn phòng đại diện phải mở tài khoản thanh toán để thuận tiện cho hoạt động và đảm bảo tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Những bài viết liên quan:
– Các thủ tục cần thực hiện đối với Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài.
Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài có phải nộp thuế khi thanh lý tài sản không?

BIOPHARM CHEMICALS Co., LTD dự kiến ​​sẽ ký hợp đồng với các công ty Việt Nam trong tương lai, và công ty có văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông qua Hệ thống tiếp nhận và trả lời kiến ​​nghị của doanh nghiệp, trong hợp đồng ngoại thương với Việt Nam yêu cầu công ty sử dụng tài khoản của Văn phòng đại diện BIOPHARM CHEMICALS CO., LTD tại Thành phố Hồ Chí Minh được mở tại Cần Tôi chuyển tiền vào tài khoản của BIOPHARM ở Thái Lan? Nếu công ty đề nghị cấp có thẩm quyền chỉ đạo làm thủ tục chuyển khoản thanh toán nội bộ nêu trên.

Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến ​​như sau:

Theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 07/2016 / NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam và Quy chế hoạt động đối với Văn phòng đại diện của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài thực hiện chức năng văn phòng liên lạc, nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại và không thực hiện các hoạt động thương mại.

Tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 16/2014 / TT-NHNN ngày 01/8/2014 hướng dẫn việc sử dụng tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng Việt Nam đối với người cư trú và người không cư trú của ngân hàng được phép. Quy định về nội dung thu ngoại tệ trên tài khoản ngoại tệ của tổ chức không cư trú, bao gồm: “Thu ngoại tệ chuyển khoản hoặc nộp ngoại tệ tiền mặt vào tài khoản trong trường hợp thu ngoại tệ trong nước theo quy với Quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam ”.

Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 16/2014 / TT-NHNN quy định nội dung thu bằng đồng Việt Nam trên tài khoản bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức không cư trú, bao gồm: cung ứng hàng hóa, thu nhập từ tiền lương, phụ cấp, thu lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác bằng Đồng Việt Nam. “

Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, văn phòng đại diện của BIOPHARM không được phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nên không phát sinh doanh thu hợp pháp từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Và miền nam được chuyển vào tài khoản thanh toán của văn phòng đại diện công ty BIOPHARM.

Ngoài ra, đối với việc sử dụng tài khoản ngoại tệ, theo quy định về hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, không được phép thực hiện các giao dịch thanh toán giữa người cư trú và người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Được thực hiện bằng ngoại tệ, trừ một số trường hợp được ngân hàng nhà nước cho phép theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, văn phòng đại diện của BIOPHARM không được phép sử dụng tài khoản thanh toán của văn phòng để nhận tiền từ các công ty Việt Nam để thanh toán theo quy định của BIOPHARM tại Thái Lan.

Chinhphu.vn

Van phong dai dien chuyen tien ra nuoc ngoai

Để đầu tư vào các dự án ở nước ngoài, công ty phải chứng minh được nguồn ngoại tệ của mình

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa lấy ý kiến ​​rộng rãi dự thảo Nghị định về đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) và một trong những nội dung quan trọng là cho phép nhà đầu tư chuyển ra nước ngoài. Tiền ở nước ngoài trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nước ngoài để trang trải chi phí hình thành dự án đầu tư.

Cụ thể là hoạt động nghiên cứu thị trường và cơ hội đầu tư; tài liệu nghiên cứu khảo sát thực địa; thu thập, mua tài liệu, thông tin liên quan đến việc lựa chọn dự án đầu tư; Tổng hợp, thẩm định và đánh giá, bao gồm cả việc lựa chọn và chỉ định tư vấn thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư …

Xem thêm  Cách làm giảm hồng cầu trong nước tiểu

Kinh phí thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện, văn phòng liên lạc ở nước ngoài liên quan đến việc hình thành dự án đầu tư; Tham gia đấu thầu quốc tế, đặt cọc, bảo lãnh hoặc bất kỳ hình thức bảo đảm tài chính nào khác theo yêu cầu của luật sư dự thầu, nước tiếp nhận đầu tư liên quan đến điều kiện tham dự thầu; đàm phán hợp đồng; Mua hoặc cho thuê tài sản hỗ trợ hình thành dự án đầu tư ra nước ngoài … Cũng sẽ được phép ra nước ngoài trước khi được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng trong việc gỡ “thế kẹt” đối với hoạt động chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài của các công ty Việt Nam. Nguyên nhân là theo quy định tại Nghị định 78/2006 / NĐ-CP về đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư không được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để hoạt động đầu tư trừ trường hợp đã được cấp giấy phép và giấy chứng nhận đầu tư.

Mặc dù Nghị định 78/2006 / NĐ-CP nêu rõ, đối với việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư để nghiên cứu, lập dự án đầu tư phải thực hiện theo quy định. Quy định về quản lý ngoại hối và các luật liên quan khác nhưng trên thực tế điều này gần như không thể thực hiện được, trừ các dự án trong lĩnh vực dầu khí.

Do đó, đây là một trong những quy định mà các công ty Việt Nam thường phàn nàn khi đầu tư ra nước ngoài, do có nhiều khoản chi phí cần phải thực hiện trong quá trình chuẩn bị đầu tư. Chưa kể ngay cả khi đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, việc chuyển tiền ra nước ngoài cũng không hề đơn giản.

“Quy định như vậy sẽ tạo lợi thế lớn cho các công ty Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài”, ông Võ Văn Chông, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết.

Tuy nhiên, thẳng thắn, ông Chung cho rằng, dù có cơ chế “mở” như vậy, dự thảo nghị định cũng sẽ có nhiều quy định để giám sát chặt chẽ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ Việt Nam ra thị trường quốc tế. Các tổ chức phải tuân thủ luật ngoại hối và các quy định khác có liên quan.

Trong số các nội dung được xem là mở trong dự thảo Nghị định, cũng như các quy định của Luật Đầu tư về đầu tư ra nước ngoài, các dự án có quy mô vốn đầu tư dưới 800 tỷ đồng sẽ được đăng ký. Đầu tư, thay vì chỉ 15 tỷ đồng như quy định trước đây. Tuy nhiên, để giám sát chặt chẽ, ban soạn thảo cho rằng đối với dự án đầu tư chuyển ngoại tệ ra nước ngoài từ 20 tỷ đồng (tương đương xấp xỉ một triệu đô la Mỹ) thì vẫn phải có ý kiến ​​thống nhất. Với ngân hàng nhà nước trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Điều này nhằm tránh việc nhà đầu tư lạm dụng các quy định mở để chuyển tiền ra nước ngoài. Các dự án sử dụng vốn nhà nước hay tư nhân đều phải tuân thủ quy định này ”, ông Chung nói.

Trong khi đó, một trong những lo ngại lâu nay của dư luận là liệu dự trữ ngoại hối trong nước còn khó khăn, nên hay không nên cho phép nhiều công ty Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Cũng sẽ có cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ, ông Chung nhấn mạnh.

Cụ thể, dự thảo Nghị định nêu rõ, trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư phải có văn bản “cam kết tự cân đối nguồn ngoại tệ hoặc văn bản của tổ chức tín dụng được phép cam kết thu xếp ngoại tệ cho nhà đầu tư. ”

“Ví dụ, một tổ chức muốn đầu tư vào một dự án trị giá 50 triệu đô la Mỹ ở nước ngoài thì phải chứng minh được nguồn ngoại tệ của mình. Hoặc được sự chấp thuận của ngân hàng thương mại để thu xếp ngoại tệ. Ông Chung giải thích và cho rằng quy định như vậy sẽ đảm bảo an toàn và quản lý ngoại tệ cho Việt Nam.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến ngày 31/12/2014, Việt Nam có 930 dự án đầu tư ra nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 19,54 tỷ đô la Mỹ.

Nguyễn Đức
Baodautu.vn

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>