Truyện Kiều của Nguyễn Du lớp 9 Lý thuyết

Đánh giá của bạn post

Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du – Ngữ văn 9

A. Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du ngắn gọn

Phần đọc – hiểu văn bản

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ văn 9 Tập 1)

– Thời đại: Cuộc đời ông gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XX: chế độ phong kiến khủng hoảng, phong trào nông dân nổi ra khắp nơi…

– Gia đình: Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và giàu truyền thống về văn chương.

– Cuộc đời:

+ Ông từng sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc (1786 – 1796) nên am hiểu văn hóa Trung Quốc – biết đến Kim Vân Kiều truyện.

+ Nguyễn Du cũng am hiểu văn hóa dân tộc, vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ của nhân dân.

→ Nguồn cảm hứng sáng tác Truyện Kiều.

Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ văn 9 Tập 1)

* Tóm tắt Truyện Kiều theo ba phần cơ bản của tác phẩm:

– Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

Truyện Kiều kể về cuộc đời của Thúy Kiều – một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh. Trong một lần du xuân, Kiều vô tình gặp gỡ Kim Trọng và có một mối tình đẹp đẽ bên chàng Kim. Hai người chủ động gặp gỡ và đính ước với nhau.

– Phần 2. Gia biến và lưu lạc

Gia đình Kiều bị nghi oan, cha bị bắt, Kiều quyết định bán mình để chuộc cha. Trước khi bán mình, Kiều trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Thúy Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa bán vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc Sinh cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Những rồi Kiều lại bị Hoạn Thư – vợ Thúc Sinh ghen tuông, đày đọa. Nàng một lần nữa bị rơi vào chốn thanh lâu. Ở đây, Kiều gặp được Từ Hải – một “anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất”. Từ Hải lấy Kiều và giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa tổng đốc Hồ Tôn Hiến, Kiều vô tình đẩy Từ Hải vào chỗ chết. Đau đớn, nàng trẫm mình xuống sông thì được sư Giác Duyên cứu.

– Phần 3. Đoàn tụ

Lại nói Kim Trọng khi từ Liêu Dương chịu tang chú xong quay về, biết Thúy Kiều gặp phải biến cố thì đau lòng. Chàng kết hôn cùng Thúy Vân nhưng vẫn ngày nhớ đêm mong gặp lại Kiều. Chàng liền quyết tâm đi tìm nàng, gia đình đoàn tụ. Túy Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai đã nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

B. Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du

I. Tác giả

a. Cuộc đời

– Nguyễn Du ( 1765-1820), tên tự là Tố Như, hiêụ Thanh Hiên.

– Quê quán :

+ Quê cha: Tiên Điền, Hà Tĩnh

+ Quê mẹ: Từ Sơn, Bắc Ninh

→ Giúp Nguyễn Du có điều kiện tiếp xúc với nhiều vùng văn hóa, dùi mài kinh sử, vốn sống, vốn hiểu biết phong phú.

b. Sự nghiệp văn học

– Sự nghiệp sáng tác: được đánh giá cao cả về chữ Hán và chữ Nôm với tinh thần nhân đạo sâu sắc, các giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đạt đến đỉnh cao.

– Tác phẩm tiêu biểu:

+ Sáng tác bằng chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục

+ Sáng tác bằng chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh, Văn chiêu hồn

Truyen kieu cua nguyen du lop 9 ly thuyet

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ

– Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) được Nguyễn Du sáng tác vào đầu thế kỉ 19 (khoảng 1805 – 1809).

– Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc.

– Tuy nhiên, phần sáng tạo của Nguyễn Du là vô cùng lớn, mang đến sự thành công và sức hấp dẫn cho tác phẩm.

2. Thể loại

– Truyện thơ Nôm

3. Bố cục

3 phần:

– Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

– Phần 2: Gia biến và lưu lạc

– Phần 3: Đoàn tụ

4. Tóm tắt

– Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước

Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng trong một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “Êm đềm chướng rủ màn che” bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân và Vương Quan. Trong ngày hội Đạp Thanh, gần nấm mồ Đạm Tiên – một hình ảnh báo hiệu định mệnh oan nghiệt sau này của nàng- Thuý Kiều gặp Kim Trọng. Trong buổi đi chơi xuân, Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng, một người thư sinh “phong tư tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp đẽ, sau đó hai người đã đính ước với nhau.

– Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc  

Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Thúy Kiều bị mắc oan, nàng đã bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền chuộc cha, nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng. Thúy Kiều bị Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó Thúy Kiều được Thúc Sinh chuộc ra nhưng vợ của hắn ta là Hoạn Thư là người ghen tuông tàn nhẫn, Thúy Kiều bị đày đọa cả về thể xác và tinh thần. Kiều trốn đến nương nhờ Sư Giác Duyên ở nơi cửa Phật. Sợ bị liên luỵ, Giác Duyên gửi nàng cho Bạc Bà, không ngờ Bạc Bà lại lừa bán nàng cho một chủ lầu xanh. Ở đây, Thúy Kiều gặp Từ Hải, người anh hùng “đầu đội trời, chân đạp đất”, Từ Hải đã giúp Thúy Kiều báo ân báo oán. Do mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Thúy Kiều bị ép gả cho viên thổ quan. Thúy Kiều đau đớn trầm mình xuống sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu lần hai. Lần thứ hai, Kiều nương nhờ nơi cửa Phật.

Xem thêm  Bài 1 trang 13 sgk toán 10

– Phần thứ ba: Đoàn tụ

Kim Trọng sau nửa năm chịu tang chú đã trở lại tìm Kiều, biết Kiều bán mình cứu cha thì đau lòng khôn nguôi. Theo lời dặn của Kiều, cha mẹ Kiều cho Thuý Vân kết duyên với Kim Trọng. Dù kết duyên với Thúy Vân nhưng Kim Trọng vẫn lưu luyến mối tình với Kiều, chàng cất công tìm kiếm, gặp được Thúy Kiều, gia đình đoàn tụ. Trong ngày đoàn viên vui vẻ, để bảo vệ “danh tiết” và tỏ lòng kính trọng người yêu, Kiều đổi tình vợ chồng thành tình bạn.nhưng cả hai nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

5. Giá trị nội dung

– Giá trị hiện thực: Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo và coi trọng đồng tiền. Đặc biệt tác phẩm còn khắc họa số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến – dù có tài năng nhưng không được làm chủ cuộc đời của mình, phải chịu nhiều cay đắng, khổ cực.

– Giá trị nhân đạo:

+ Tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người.

+ Tiếng nói khẳng định đề cao tài năng, nhân phẩm và khát vọng chân chính của con người: khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc…

+ Bài ca về tình yêu tự do, thủy chung cũng như ước mơ về một xã hội công bằng.

6. Giá trị nghệ thuật

– Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại.

– Với Truyện Kiều, ngôn Ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ.

– Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bạc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người.

Bài giảng Ngữ văn 9 Truyện Kiều của Nguyễn Du

Xem thêm các bài soạn Ngữ văn 9 hay, chi tiết khác:

Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều)

Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thuật ngữ

Miêu tả trong văn bản tự sự

Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Truyen kieu cua nguyen du lop 9 ly thuyet ahr0chm6ly9ob2mync52bi9zb3vyy2uvtmd1ewvuzhuuanbn

Nguyễn Du ( 1765 – 1820)

– Tên chữ: Tố Như.

– Tên hiệu: Thanh Hiên.

– Quê: Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

– Nguyễn Du là người hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phú. Trong những biến động dữ dội của lịch sử, nhà thơ đã sống những năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, những con người, những số phận khác nhau.

1. Gia đình

– Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng, có tiếng là giỏi văn chương.

– Mẹ là Trần Thị Tần, một người đẹp nổi tiếng Kinh Bắc (Bắc Ninh- đất quan họ).

– Các anh đều đỗ đạt làm quan to, trong đó có Nguyễn Khản (cùng cha khác mẹ) làm quan thượng thư dưới Triều Lê Trịnh, giỏi thơ phú.

=> Gia đình: đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn chương. Ông thừa hưởng sự giàu sang phú quý có điều kiện học hành- đặc biệt thừa hưởng truyền thống văn chương.

2. Thời đại

– Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỉ XIX, đây là thời kỳ lịch sử có những biến động dữ dội.

– Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thống trị thối nát, tham lam, tàn bạo, các tập đoàn phong kiến ( Lê- Trịnh, Trịnh- Nguyễn) chém giết lẫn nhau.

– Nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.

-> Tác động tới tình cảm, nhận thức của tác giả, ông hướng ngòi bút vào hiện thực:

                                       Trải qua một cuộc bể dâu

                              Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

3. Cuộc đời

– Lúc nhỏ: 9 tuổi mất cha, 12 tuổi mất mẹ, ở với anh là Nguyễn Khản.

– Trưởng thành:

+ Khi thành Thăng Long bị đốt, tư dinh của Nguyễn Khản cháy, Nguyễn Du đã phải lưu lạc ra đất Bắc (quê vợ Thái Bình), nhờ anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn 10 năm trời (1786- 1796).

+Từ một cậu ấm cao sang, thế gia vọng tộc, từ một viên quan nhỏ đầy lòng hăng hái, phải rơi vào tình cảnh sống nhờ. Mười năm ấy, tâm trạng Nguyễn Du vừa ngơ ngác vừa buồn chán, hoang mang, bi phẫn.

+ Khi Tây Sơn tấn công ra Bắc (1786), ông phò Lê chống lại Tây Sơn nhưng không thành.

+ Năm 1796, định vào Nam theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng bị bắt giam 3 tháng rồi thả.

+ Từ năm 1796 đến năm 1802, ông ở ẩn tại quê nhà.

+ Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, trọng Nguyễn Du có tài, Nguyễn Ánh mời ông ra làm quan. Từ chối không được, bất đắc dĩ ông ra làm quan cho triều Nguyễn.

+ 1802: Làm quan tri huyện Bắc Hà.

Xem thêm  Khoảng cách giữa hai vân tối ngoài cùng là

+ 1805- 1808: làm quan ở Kinh đô Huế.

+ 1809: Làm cai bạ tỉnh Quảng Bình.

+ 1813: Thăng chức Hữu tham tri bộ Lễ, đứng đầu một phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc lần tứ nhất (1813- 1814).

+ 1820, chuẩn bị đi sứ sang Trung Quốc lần 2 thì ông nhiễm dịch bênh ốm rồi mất tại Huế (16-9-1820). An táng tại cánh đồng Bàu Đá (Thừa Thiên- Huế).

+ 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ xin nhà vua mang thi hài của ông về an táng tại quê nhà.

-> Cuộc đời ông chìm nổi gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người. Cuộc đời từng trải, vốn sống phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong 5 người giỏi nhất nước Nam.

– Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với những đau khổ của nhân dân.

– Tác giả Mộng Liên Đường chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra như máu chảy ở đầu ngòi bút, nước mắt thấm đẫm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột. Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh cũng hệt, đàm tình đã thiết. Nếu không phải con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.

=> Kết luận: Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một thiên tài kiệt xuất. Với sự nghiệp văn học có giá trị lớn, ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hóa thế giới, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.

– Nguyễn Du là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, là ngôi sao chói lọi nhất trong nền văn học cổ Việt Nam.

* Những tác phẩm chính:

  Tác phẩm chữ Hán:

– Thanh Hiên thi tập (1787-1801).

– Nam Trung tạp ngâm (1805-1812).

– Bắc hành tạp lục(1813-1814).

Tác phẩm chữ Nôm

– Truyện Kiều.

– Văn chiêu hồn.

@[email protected]@[email protected]

– Dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng phần sang tạo của Nguyễn Du là rất lớn.

– Lúc đầu có tên là “Đoạn trường tân thanh”, sau đổi thành “Truyện Kiều”.

=> Là tác phẩm văn xuôi bằng chữ Nôm.

+ Tước bỏ yếu tố dung tục, giữ lại cốt truyện và nhân vật.

+ Sáng tạo về nghệ thuật: Nghệ thuật tự sự, kể chuyện bằng thơ.

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc.

+ Tả cảnh thiên nhiên.

Thời điểm sáng tác:

– Viết vào đầu thế kỉ XIX (1805 – 1809).

– Gồm 3254 câu thơ lục bát.

– Xuất bản 23 lần bằng chữ Nôm. Gần 80 lần bằng chữ quốc ngữ.

– Bản Nôm đầu tiên do Phạm Quý Thích khắc trên ván, in ở Hà Nội.

– Năm 1871 bản cổ nhất còn được lưu trừ tại thư viện Trường Sinh ngữ Đông – Pháp.

– Dịch ra 20 thứ tiếng, xuất bản ở 19 nước trên toàn thế giới.

– Năm 1965: kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, Truyện Kiều được xuất bản bằng chữ Tiệp, Nhật, Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Ba Lan, Hung-Ga-Ri, Rumani, CuBa, Anbani, Bungari, Campuchia, Miến Điện, Ý, Angieri, Ả Rập…

2. Tóm tắt tác phẩm

Phẩn 1:

Gặp gỡ và đính ước.

+ Gia thế – tài sản.

+ Gặp gỡ Kim Trọng.

+ Đính ước thề nguyền.

Phần 2:

Gia biến lưu lạc.

+ Bán mình cứu cha.

+ Vào tay họ Mã.

+ Mắc mưu Sở Khanh, vào lầu xanh lần 1.

+ Gặp gỡ làm vợ Thúc Sinh bị Hoạn Thư đầy đọa.

+ Nương nhờ cửa Phật, mắc mưu Bạc Bà, vào lầu xanh lần 2.

+ Gặp gỡ Từ Hải, được báo ân báo oán.

+ Mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Từ Hải chết, tự vẫn.

+ Nương nhờ cửa Phật.

Phần 3:

Đoàn tụ gia đình, gặp lại người xưa.

III.Tổng kết

a. Giá trị nội dung:

*Giá trị hiện thực: 

Tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận những con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch người phụ nữ.

* Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người; sự lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo; sự trân trọng, đề cao con người tuef vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, những khát vọng chân chính.

b. Giá tị nghệ thuật:

Truyện Kiều là một kiệt tác đạt được thành tựu lớn về nhiều mặt, nổi bật là ngôn ngữ và thể loại:

– Thể thơ lục bát giàu tính dân gian của văn học Việt Nam.

– Tiếng Việt đã đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật, không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (thể hiện cảm xúc) mà còn mang chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của ngôn từ). Tiếng Việt trong truyện Kiều hết sức giàu và đẹp.

– Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc. Ngôn ngữ kể chuyện đã có cả 3 hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực tiếp (lời tác giả nhưng mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật).

– Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng, bên cạnh những bức tranh chân thực, sinh động là những bức tranh tả cảnh ngụ tình. 

2. Tác giả Nguyễn Du

– Là một nhà văn vĩ đại của dân tộc, một con người hội tụ đầy đủ cả tâm và tài.

@[email protected]

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>