Trong nội dung nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên tư tưởng xuyên suốt trong đấu tranh ngoại giao là

Đánh giá của bạn post

QPTD – Thứ Sáu, ngày 13/03/2020, 13:15 (GMT + 7)

Nghệ thuật ngoại giao đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của các triều đại phong kiến ​​Việt Nam

Đấu tranh ngoại giao là một trong những nội dung quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, góp phần giữ gìn biên cương của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, khẳng định chủ quyền quốc gia. Đây là những bài học kinh nghiệm quý báu còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào vấn đề bảo vệ Tổ quốc.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với đặc thù là một nước nhỏ, đứng cạnh một số nước lớn, tôi đã nghĩ đến việc “kéo dài, thôn tính, mở rộng lãnh thổ”, “tranh giành quyền thống trị”. , “bình định thiên hạ”, tự cho mình có quyền sai quân đi “trừng trị”, ép các nước láng giềng làm chư hầu, v.v… nên Việt Nam liên tục phải đấu tranh, chiến đấu với các đế quốc hùng mạnh, ra sức xâm lược, giới thiệu và thực hiện chính sách cai trị và nô dịch, v.v. Trải qua bao thăng trầm, hầu hết các triều đại phong kiến ​​Việt Nam vẫn kiên cường, bất khuất, giữ vững độc lập, hòa bình, phồn vinh. Tuy nhiên, một số triều đại có tư tưởng nhu nhược, bỏ nước phụ thuộc, không có độc lập tự chủ, nhân dân khổ sở. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, nhân dân ta, đứng đầu là các vị lãnh tụ, anh hùng của các triều đại đã đứng lên giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết cộng đồng đánh giặc, bảo vệ biên cương Tổ quốc. , giữ bình yên cho công trình. Trên đất nước Việt Nam.

Bên cạnh đấu tranh quân sự, cha ông ta còn thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo, hiệu quả cao, mềm dẻo, thông minh nhưng kiên quyết, đề cao tư duy, trí tuệ và bản lĩnh của một dân tộc không chịu chấp nhận đường lối đối ngoại của ông. Phục tùng, không chịu khuất phục, phụ bạc, đảm bảo “ấm áp bên trong, bình tĩnh bên ngoài”, giữ cho các ranh giới trong hòa bình. Chính sách đối ngoại của nước ta được thực hiện đa dạng, phong phú, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử, mang đậm bản sắc, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của từng chế độ. Các triều đại phong kiến ​​Việt Nam nhưng đều hướng tới mục tiêu giữ vững độc lập tự chủ, chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xây dựng nền hòa bình lâu dài cho các dân tộc.

Nghệ thuật đấu tranh ngoại giao của các triều đại phong kiến ​​Việt Nam được đề cập trong bài viết tập trung vào giai đoạn từ khi các triều đại phong kiến ​​độc lập dưới triều Ngô (năm 938) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Với gần một nghìn năm, trải qua quá trình cai trị và điều hành của các triều đại phong kiến ​​Việt Nam từ các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đến Hồ, Lê Sơ, Mạc, Tây Sơn và thời Nguyễn, đất nước ta đã và đang được nghiên cứu , phát triển và ứng dụng sâu rộng nghệ thuật ngoại giao, đạt hiệu quả cao, trở thành nội dung chủ yếu xuyên suốt, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ, củng cố nền độc lập tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khỏi bị đồng hóa, đô hộ của các nền văn hóa ngoại lai.

Qua nghiên cứu lịch sử các triều đại phong kiến ​​Việt Nam, chúng ta thấy một số vấn đề cơ bản trong đấu tranh ngoại giao như sau:

Đầu tiên. Cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ. Trong lịch sử quan hệ với các nước láng giềng của Việt Nam, quan hệ với Trung Quốc được coi là lâu đời và quan trọng nhất. Trong bối cảnh quan hệ hai nước, cha ông ta rất coi trọng đấu tranh ngoại giao, giữ gìn độc lập tự chủ của dân tộc, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Điều này chỉ rõ tư tưởng, tinh thần và ảo tưởng của một dân tộc không chịu khuất phục, không chịu mất quê hương, không chịu làm nô lệ, lệ thuộc vào bất cứ nhà nước nào dù lớn hay nhỏ, bằng mọi giá. Phải có độc lập tự chủ, đất đai phải được bảo vệ và giữ gìn, đất nước không bị xâm lăng.

Thông thường vào thời Lý, để ngăn cản âm mưu bành trướng lãnh thổ của nhà Tống, vua Lý Nhân Tông đã đề cao cảnh giác, đưa ra nhiều hình thức đấu tranh ngoại giao, như quan hệ chính thức thông qua sứ bộ. giao dịch mua bán, trao đổi ở khu vực biên giới và điều tiết các hoạt động phân giới, củng cố biên giới; Ông chủ động cử sứ sang nhà Tống để thỉnh cầu sắc phong, thỉnh cầu Tam tạng, thậm chí chấp nhận triều cống, phong thần để đạt được mục tiêu yêu nước, yêu nước, bảo vệ biên cương, bờ cõi. Các hoạt động đấu tranh ngoại giao của nhà Lý, đặc biệt là chính sách ngoại giao mềm dẻo, không chỉ xoa dịu căng thẳng, ngăn chặn ý đồ xâm lược Đại Việt của nhà Tống mà còn lấy lại vùng đất Quảng Nguyên. Zhao) vào năm 1079, để đổi lấy năm 1081, nhà Lai trả lại những cư dân và binh lính bị bắt cho nhà Tống. Sau đó, vào năm 1084, Lí Nhân Tông sai “Tả quân Lư Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng với quân Tống bàn bạc việc biên cương,… để định ranh giới, nhà Tống trả lại cho ta 6 tỉnh và 03 động” 1.

Xem thêm  Chỉnh sửa địa chỉ doanh nghiệp trên Google Map

Thời Lỗ Sử, ta đã thực hiện nhiều chính sách đối ngoại khôn khéo, buộc nhà Minh phải công nhận nền độc lập tự chủ của Đại Việt. Hay ở triều Thái Sơn, nhờ thực hiện tốt các hoạt động đấu tranh ngoại giao mà nhà Thanh phải công nhận nền độc lập của phương nam; Bỏ tục lệ cống người vàng bạc, đồ trang sức. Trả lại Thất Lục Địa cho Hồng Hoa đã bị chiếm đóng trước đây; Thay đổi cách nhìn, đồng thời tôn trọng chủ quyền và văn hóa của phương Nam trong quan hệ hai nước. Đặc biệt, các hoạt động đấu tranh ngoại giao của các triều đại nhà Nguyễn sau này đã buộc nhà Thanh phải công nhận nhà nước phong kiến ​​độc lập và có chủ quyền, công nhận quốc hiệu tự xưng là “Việt Nam”, thay cho quốc hiệu Nam Kỳ trước đây. , việc công nhận biên giới và lãnh thổ trên biển của nước ta, v.v.

2 – Thực hiện linh hoạt, sáng tạo các chính sách và biện pháp ngoại giao; Chú trọng đường lối đối ngoại kiên trì, mềm dẻo, biết người khác, biết mình, giữ hòa khí, thân thiện nhưng vững vàng, khó khăn.. Trước tư tưởng luôn coi mình là “thiên triều”, coi các nước nhỏ là “thần phục” và chính sách “cống nạp” của các triều đại phong kiến ​​phương Bắc, các triều đại phong kiến ​​Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách và ngoại giao. thủ tục rất mềm dẻo, linh hoạt, mềm dẻo, nhằm duy trì hòa bình Và thân thiện, mang lại hòa bình cho đất nước. Đáng chú ý, chúng ta đã thực hiện chính sách “nhân danh hoàng đế, vi tôn vua” để che mắt các triều đại phương Bắc, ở nước ngoài với danh nghĩa “thần phục”, khiêm tốn, trịch thượng và chấp nhận. (vàng, bạc, voi, ngựa, v.v., những thứ quý hiếm) để công nhận chủ quyền, trấn yểm, ngăn chặn chiến tranh, tránh binh lửa, giữ vững biên cương của đất nước … Ở quê nhà, họ tự xưng là “Hoàng đế” để trị vì và cai trị đất nước. Năm 997, khi vua Tống băng hà, nhà Tống là Lư Huân sơn trang làm Nam Bình Fong, Lữ Huấn đã cử sứ sang nhà Tống để tỏ lòng thành kính, trước hành động này của Lữ Huấn, vua Tống đã ban hành “chiếu thư. khen”. Kể từ đó, nhà Tống đã thay đổi chính sách ngoại giao có lợi cho ta. Vào thời nhà Lỗ, để ngăn chặn ý đồ trả thù và tái chiếm nước ta của nhà Minh, Lỗ Lỗ với lòng khoan dung độ lượng đã mở một cuộc bao vây, thả tù binh, cung cấp chiến thuyền và lương thực cho quân Minh. Nước an toàn. Với tư tưởng kiên trung, mưu trí, sáng tạo, gìn giữ hòa bình, láng giềng hữu nghị nhưng không nhu nhược, hèn kém, luôn mạnh mẽ, kiên quyết trong ngoại giao bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đất nước, vào năm 1473, khi được giao nhiệm vụ đi sứ, vua Lô Thanh Tùng đã nói với sứ đồ rằng: “Ngươi đừng phế một thước núi ta, một tấc sông ta, ngươi hãy cố gắng. tranh luận, không cho chúng nó lấn tới, nếu chúng không Nghe lời, thì cũng có thể cử quan sang Bắc triều bày tỏ đúng sai, nếu dám lấy một thước, một tấc đất của Thái tổ mà nuôi. nó đối với kẻ thù, bạn sẽ phải diệt trừ tội ác. ” Không chỉ vậy, cha ông còn khoe khoang về sức mạnh và khả năng bảo vệ đất nước của mình để ngăn chặn sự xâm lược của kẻ thù, như khi ông tiếp các sứ thần nhà Tống (Tong Zhao và Fong Ich Tak) tại trại Nai Chen. (Trọng Chao, Hứa Lữ), Lê Hoàn đã “bày binh bố trận”.

Xem thêm  Vi sinh vật nào sau đây có kiểu dinh dưỡng là hóa tự dưỡng

Đặc biệt, dưới thời nhà Trần, dù đã ba lần đại bại trước nhà Nguyên Mông, bảo vệ nghiêm ngặt biên cương phía Bắc, nhưng vua Trần vẫn tuân thủ chính sách đối ngoại mềm dẻo với nhà Nguyên, ngăn chặn âm mưu xâm lược. lược nước ta, duy trì chế độ nhà Trần 175 năm. Bên cạnh đó, cha ông ta còn dùng những chiêu trò lừa bịp, lừa bịp, hòa đàm trong đấu tranh ngoại giao, như ở triều Thái Sơn, Nguyễn Huệ đã sai người đóng giả mình để tôn vua Mẫn Thần, hợp nhất về chính trị để hòa giải nhằm xoa dịu và ngăn chặn nhà Thanh. Âm mưu trả thù của Vương triều. Những chủ trương trên, thể hiện sâu sắc văn hóa đối nhân xử thế và ngoại giao: “Biết người, biết mình”, “Biết thời, biết tình”, “Có chí thì có”, “Khó mà lui”. Yếu chỉ ”, sự dịu dàng, uyển chuyển của cha ông ta trong lịch sử.

3. Kết hợp chính sách đối nội, đối ngoại và tạo dựng, tăng cường sức mạnh tổng hợp để bảo vệ đất nước khỏi bị xâm lược. Nhận thức rõ mối quan hệ giữa chính sách đối nội và đối ngoại, các triều đại phong kiến ​​Việt Nam luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ hai lĩnh vực này, nhằm huy động tiềm lực toàn dân, huy động lực lượng trong cả nước. chống lại kẻ thù. Về đối nội, các triều đại đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nâng cao sức khỏe cộng đồng, nhà Nguyễn đã cử quân dân ra khai phá hoang đảo, thu hái sản vật và thực hiện quyền của mình. Nó được quản lý trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trung Sa. Trong quá trình phát triển văn hóa, giáo dục, nhà Lý đã cho xây dựng Văn Miếu, mở các khoa thi, tuyển chọn nhân tài cấp quốc gia, đấu tranh giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, không để văn hóa phương Bắc đồng hóa. Đồng thời ban hành các bộ luật Hình Thổ cho nhà Lí, Hồng Đức nhà Lí, nhằm duy trì trật tự, kỉ cương trong núi xã, bảo đảm thượng hạ một lòng, cát cứ không được phân chia theo luật. Nổi dậy giúp đỡ bên ngoài. Thực hiện “Bên trong ấm, bên ngoài bình tĩnh”, “Bên trong bình tĩnh, bên ngoài bình tĩnh”. Trong lĩnh vực kinh tế – quốc phòng, Người chú trọng đến các chủ trương kết hợp xây dựng đất nước với bảo vệ Tổ quốc, lấy kinh tế với bảo vệ Tổ quốc, như “tề gia thì có quân”, “ở quê thì ra quân”, “quốc gia làm giàu”. “. quân đội”, xây dựng quân đội gồm quân triều đình, tỉnh đội, các lộ, phủ, dân quân và bộ binh; Tổ chức đóng tàu chiến, rèn vũ khí, đắp hàng rào, luyện binh, kỵ binh, canh phòng cẩn mật các vùng biên cương trọng yếu, phòng chống chiến tranh, … xây dựng nhà nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt, tạo thế và lực làm chỗ dựa cho công tác đối ngoại, ngoại giao với các nước láng giềng. nhà nước, ngăn chặn và ngăn chặn cuộc xâm lược của người ngoài hành tinh. Về đối ngoại, cha ông ta luôn đề cao cảnh giác, giữ bí mật, không cho sứ giả vào nội gián xâm lược nước ta. Lỗ Huấn đã khéo léo đề nghị với sứ nhà Tống: “Tương lai nếu có việc ngôn sứ, thì nên giao trực tiếp ở đầu biên giới, sứ giả không thèm đến đây nữa” 3; Khai thác tối đa cơ hội quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, ngăn chặn chiến tranh, giữ gìn biên cương Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình để các triều đại phong kiến ​​Việt Nam tồn tại, phát triển thịnh vượng lâu dài, tránh sự xâm lược của các thế lực ngoại bang.

Những vấn đề cơ bản trong nghệ thuật ngoại giao đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của các triều đại phong kiến ​​Việt Nam trong lịch sử cần được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào công tác đối ngoại nói chung và ngoại giao quốc phòng nói riêng, bảo vệ Tổ quốc sớm và từ xa bằng biện pháp hòa bình.

Đại tá, Ths. NGUYỄN ĐỨC PHÚ.
___________________

1 – Ngô Sỹ Liên – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Thời đại, H. 2006, tr. 203.

2 – Ngô Sỹ Liên – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Thời đại, H. 2006, tr. 672.

3 – Quỳnh Qu, Đỗ Đức Hùng – Các triều đại Việt Nam, NXB Trẻ, E. 2006, tr. 75.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>