Tiêu luận thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Đánh giá của bạn post

Thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc

Tieu luan thua ke khong phu thuoc vao noi dung di chuc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết[1].

Quyền của người lập di chúc[2] là chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định di sản cho từng người thừa kế, dành một phần di sản trong khối di sản để di tặng, thờ cùng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Theo đó, người có tài sản có quyền định đoạt tài sản của mình trong di chúc cho ai theo ý chí của họ nhưng không có toàn quyền trong việc định đoạt này.

Pháp luật Việt Nam có một số quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản của người để lại di sản, có thể kể đến là trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc[3].

Theo đó, người thừa kế vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó. Cụ thể:

1. Về đối tượng được hưởng

–          Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.

Mặc dù pháp luật dân sự không quy định rõ nhưng để được hưởng sự bảo vệ của quy định này thì phải là vợ, chồng hợp pháp của người lập di chúc. Đối với quy định về đối tượng là cha, mẹ thì pháp luật dân sự không đặt ra là cha ruột, mẹ ruột hay cha nuôi, mẹ nuôi, do đó, trong trường hợp này, người được hưởng phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ cần đáp ứng điều kiện là cha mẹ hợp pháp của người để lại di chúc.

–          Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Trên nội dung này, có thể nhận thấy Bộ luật dân sự hiện hành không phân biệt con đẻ hay con nuôi, cont ruong giá thú hay ngoài giá thú nên tất cả những người này đều thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện hành không quy định về thời điểm xác định tuổi của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc là lúc người có di sản lập di chúc, thời điểm mở thừa kế hay tại thời điểm phân chia di sản. Thiết nghĩ, giải pháp thuyết phục là xác định tuổi tịa thời điểm mở thừa kế[4].

Về quy định đối với trường hợp con thành niên mà không có khả năng lao động, Bộ luật dân sự cũng không có giải thích rõ như thế nào là “không có khả năng lao động”. Tuy nhiên, tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP có đưa ta một số trường hợp được coi là “mất khả năng lao động”, đó là trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên. Nếu một cá nhân thuộc trường hợp này thì thiết nghĩ cũng thuộc trường hợp “không có khả năng lao động” trong quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Tuy nhiên, những quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc những người này thuộc đối tượng không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật.

2. Về phần được hưởng trong di sản

Sau khi xác định được hưởng người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Bộ luật dân sự có liệt kê ba hàng thừa kế, tuy nhiên, đối với trường hợp này, chỉ tính thừa kế theo pháp luật đối với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bởi những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Khi chúng ta phải xác định quyền lợi của những người này thì điều đó chứng tỏ hàng thừa kế thư nhất tồn tại nên không áp dụng cho hàng thừa kế tiếp theo.

[1] Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015

[2] Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015

[3] Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015

[4] Đỗ Văn Đại (2009), Luật Thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận án, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 201.

Để được tư vấn chi tiết, vui lòng liên hệ chúng tôi theo địa chỉ sau:

Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Quang Thái, số 12 Mạc Đĩnh Chi, phường Đakao, Quận 1, TP. HCM.

Website: luatthuake.vn

Email:

Điện thoại: 090 384 0440

Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nốiI. Khái quát quyền thừa kế và nguyên tắc của quyền thừa kế. 1I.1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế. 1I.2. Các nguyên tắc của quyền thừa kế. 2II. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. 21. Người thừa kế tài sản không phụ thuộc vao nội dung của di chúc. 22. Thực tiễn của quy định người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chú 2KẾT LUẬN. 2TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 BÀI LÀMI. Khái quát quyền thừa kế và nguyên tắc của quyền thừa kế.I.1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế.Khái niệm thừa kế.Theo giáo tình Luật Dân Sự (DS) của trường đại học Luật Hà Nội có viết: “Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế sơ khai của xã hội loài người. Ở thời kì này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho người sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc”.Theo giáo trình Luật DS Việt Nam (tập một) do TS. Lê Đình Nghị (chủ biên) kết luận như sau: “bởi vậy, việc di chuyển tài sản của người chết cho người sống đã tồn tại như mộy yêu cầu khách quan của xã hội và được hiểu đó là việc thừa kế tài sản”.Như vậy, khái niệm về thừa kế là việc di chuyển tài sản của người chết cho người sống được thực hiện dựa trên mối quan hệ về huyết thống, dòng tộc hay quan hệ về nuôi dưỡng. Từ khái niệm về thừa kế hình thành lên các quyền về thừa kế. Khái niêm quyền thừa kế.Quyền thừa kế được hiểu như sau:Theo nghĩa rộng, thừa kế được hiểu là chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ di chuyển tài sản từ người chết cho những người sống khác theo ý trí của họ được thực hiện theo di chúc hay theo ý chí của nhà nước (phân định tài sản theo pháp luật) được thực hiện trong các quy phạm pháp luật.Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế là quyền năng dân sự của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế và người có quyền được hưởng di sản đó.Quyền thừa kế được hiểu là mối quan hệ của pháp luật dân sự, mối quan hệ thừa kế được pháp luật dân sự điều chỉnh, nó cũng bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung Từ khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế ta có hiểu chung về quyền thừa kế là mối quan hệ thừa kế của người để lại di sản thừa kế và người nhận di sản thừa kế và quan hệ này được pháp luật điều chỉnh.I.2. Các nguyên tắc của quyền thừa kế.Quyền thừa kế được luật dân sự Việt Nam điều chỉnh do đó mà cũng giống như các luật khác dựa trên các nguyên tắc chung của ngành luật đó để điều chỉnh các mối quan hệ thuộc ngành luật điều chỉnh. Quyền thừa kế cung được diều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của luật Dân Sự sau: Nguyên tắc bảo hộ về quyền thừa kế của cá nhân.Điều 631, Bộ Luật dân sự 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân:“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hay theo pháp luật”.Tại điều 631 ta thấy pháp luật bảo vệ cả quyền cá nhân của người lập di chúc và người được hưởng di di sản thừa kế. Quyền của người để lại thừa kế là có quyền được lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết có toàn quyền định đoạt tài sản của mình cho chủ thể khác mà không ai có quyền ngăn cản, hay lừa dối. Nếu một người không muốn để lại di chúc hay không thể để lại di chúc( trong trường hợp bị chết đột ngột) thì di sản đó cá nhân bắt buộc vẫn phải chia theo pháp luật quy định. Về quyền được hưởng di sản thừa kế thì cá nhân có quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật. Khi cá nhân người chết lập di chúc cho hưởng di sản thì không ai có quyền hạn chế quyền được nhận di sản thừa kế của mọi chủ thể. Nếu người chết không định đoạt di sản của họ thì pháp luật sẽ chia di sản đó cho những người thuộc diện thừa kế hay hàng thừa kế theo pháp luật của người chết hưởng phần di sản đó. Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế.

Xem thêm  Cách sử dụng remote máy lạnh sharp 1 ngựa

Xem link download tại Blog Kết nối!

Download Tiểu luận Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn miễn phí Nếu người từ chối nhận di sản là người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thừa kế theo luật của người để lại di sản thì cần xác định: nếu họ chỉ từ chối việc nhận di sản theo di chúc thì họ vẫn là người thừa kế theo luật, do vậy, họ là nhân suất để xác định một suất thừa kế theo luật; nếu họ từ chối việc nhận di sản theo pháp luật thì họ không phải là người thừa kế theo luật nữa. Do vậy họ không phải là một nhân suất khi xác định một suất thừa kế. Từ việc phân tích trên cho chúng ta nhận thấy hiện đang còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Qua đó chúng ta cần xác định như sau: Lấy tổng giá trị di sản thừa kế chia cho tổng nhân suất (trừ người đã bị tước, bị truất, người từ chối theo luật đã từ chối toàn bộ). Vì vậy 2/3 của một định suất được tính theo công thức: tổng giá trị di sản thừa kế chia cho tổng nhân suất thừa kế rồi nhân với 2/3. Sau khi áp dụng công thức trên thì tính được 2/3 của một suất thừa kế theo luật cụ thể là bao nhiểu thì việc trích từ phần di sản nào để cho người thừa kế được. /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-37629/

Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

úc và theo pháp luật. Người được thừa kế theo Điều 669 BLDS không có tên trong di chúc và họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản nhưng vẫn giả sử di sản được chia theo pháp luật để xác định suất thừa kế mà họ được hưởng. Ví dụ: A và B là hai vợ chồng họ có mộ con là C. A chẳng may chết và đề lại di chúc cho con C toàn bộ di sản là căn nhà trị giá 60 lượng vàng, tuy nhiên căn cứ quy định trên, khi anh A qua đời thì con chị chỉ được hưởng 40 lượng, chồng chị được hưởng 20 lượng. Bởi vì nếu chia theo pháp luật (thừa kế hàng thứ nhất chỉ có 2 người) thì mỗi người được hưởng 60:2= 30 lượng, mức hưởng thừa kế không phụ thuộc di chúc của chồng là 2/3 của 1 suất, tức 2/3 x 30 = 20 lượng, vậy người con chỉ còn 60 – 20 = 40 lượng. Hay trong trường hợp hai vợ chồng lấy nhau được 10 năm và có hai con ( 9 tuổi và 3 tuổi). Người chồng mất và để lại di chúc là để lại toàn bộ căn nhà trị giá 570 triệu người chồng xây trước khi kết hôn cho em của người chồng. Bố mẹ chồng cũng đã mất từ lâu, người vợ không di làm chỉ ở nhà chăm sóc hai con nên hiện giờ rất khó khăn. Giải quyết trường hợp này chúng ta thấy: Vì bố mẹ chồng đã mất, người vợ và hai con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cả hai con đều chưa thành niên nên căn cứ vào khoản 1 Điều 669 thì vợ và hai con là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Vì người vợ đã viết di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho người em trai, nên người vợ và hai con mỗi người được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà anh chồng để lại là 570 : 3 x 2/3 = 380/3. Người em trai của người chồng sẽ được hưởng phần di sản là 570- 380/3 x 3= 190 triệu đồng.
3. Vấn đề xác định hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Chia như thế nào để xác định một định suất thừa kế theo pháp luật ?. Về nguyên tắc, một suất thừa kế theo luật là kết quả của một phép chia, trong đó số bị chia là tổng giá trị di sản thừa kế mà như đã xác định thì di sản thừa kế là toàn bộ di sản của người chết để lại sau khi đã trừ đi các nghĩa vụ về tài sản cảu người chết để lại và các khoản chi phí có liên quan, số chia là tổng những người thừa kế theo pháp luật (những nhân suất). Trong thực tế, việc xác định được một suất thừa kế để từ đó xác định 2/3 của nó không đơn giản như chỉ đơn thuần như một phép chia số học. Việc xác định xem ai là nhân suất còn có nhiều quan điểm khác nhau. Cần lưu ý những người sau đây có phải là một nhân suất hay không: người không có quyền hưởng di sản theo Điều 643, người thừa kế theo Điều 669 bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản, người từ chối nhận di sản. Việc người từ chối nhận di sản thì họ sẽ không được nhận di sản nữa kể cả chia theo pháp luật. Tuy nhiên cần xem xét trong những tình huống cụ thể sau :
– Những người không có quyền hưởng di sản theo Điều 643 BLDS: Những người không có quyền hưởng di sản bao gồm cả những người thừa kế theo pháp luật và những người thừa kế theo di chúc. Nhưng để được coi là một nhân suất để tính một suất theo luật thì ta chỉ xem xét nếu họ là người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc. Đây là những người đáng lẽ được hưởng di sản nhưng do có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên pháp luật không cho họ hưởng di sản. Theo Điều 643, những người này bao gồm: “ a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hay về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hay toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hay ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hay toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
Những người này có được coi là nhân suất khi xác định một suất theo luật hay không, hiện nay còn tồn tại hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đây là những người đáng lẽ được hưởng di sản nhưng do có những hành vi trái đạo đức, trái pháp luật nên họ bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Do đó, họ không còn là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Vì vậy không được tính họ vào nhân suất để xác định một suất theo luật. Quan điểm thứ hai cho rằng, cho dù bị tước quyền hưởng di sản nhưng những người này vẫn phải được coi là nhân suất để tính một suất theo luật vì nếu không như vậy dễ dẫn đến trường hợp “kỷ phần bắt buộc” có thể ít hơn bằng hay thậm chí lớn hơn một suất của một người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp bình thường.
Theo em, quan điểm thứ nhất hợp lý hơn, bởi lẽ, cách tính 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật là giả định di sản được chia theo pháp luật. Nếu di sản được chia theo pháp luật thì đương nhiên sẽ không thể chia cho những người bị tước quyền hưởng di sản. Vì vậy, những người này không được coi là một nhân suất để tính 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.
– Những người bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản: Đây là những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Nếu không có di chúc hay di chúc vô hiệu, di sản được chia theo pháp luật thì đương nhiên họ sẽ được hưởng di sản. Sở dĩ họ không được hưởng di sản bởi vì người lập di chúc đã truất quyền hưởng di sản của họ. Vì vẫn là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, nếu di sản được chia theo pháp luật họ vẫn được hưởng di sản thừa kế, do đó, họ phải được coi là nhân suất khi tính một suất theo luật.
– Những người từ chối quyền hưởng di sản: Đây có thể là những người thừa kế theo pháp luật cũng có thể là những người thừa kế theo di chúc. Họ có quyền hưởng di sản theo pháp luật cũng như theo di chúc (nếu người lập di chúc cho họ hưởng). Về vấn đề người từ chối hưởng di sản có được coi là nhân suất để xác định 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật hay không theo chúng tui phải chia làm hai trường hợp:
+ Nếu người từ chối chỉ là người thừa kế theo di chúc (không thuộc diện và hàng thừa kế, không có quan hệ hôn nhân, huyết thống nuôi dưỡng với người để lại di sản) thì đương nhiên họ không phải là nhân suất khi xác định một suất thừa kế theo luật (bởi lẽ nếu di sản được chia theo pháp luật thì không chia cho những người này).

Xem thêm  Quy luật về tính ổn định của tri giác

+ Nếu người từ chối nhận di sản là người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thừa kế theo luật của người để lại di sản thì cần xác định: nếu họ chỉ từ chối việc nhận di sản theo di chúc thì họ vẫn là người thừa kế theo luật, do vậy, họ là nhân suất…

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>