Quan hệ giữa Việt Nam với EU chính thức được thiết lập khi nào

Đánh giá của bạn post

Năm 2000, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) kỷ niệm 10 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (28-11-1990 – 28-11-2000) và 5 năm ngày ký Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam – EU (17-7-1995 – 17-7-2000). Quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và EU đã đạt được những kết quả lớn, tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo. Cộng đồng người Việt ở khu vực này khá lớn với con số trên dưới 500.000 người luôn luôn hướng về Việt Nam và muốn có đóng góp để xây dựng quê hương. Trên cơ sở các mối quan hệ chính trị ổn định và hiểu biết lẫn nhau, quan hệ về kinh tế, nhất là về hợp tác phát triển, thương mại, đầu tưu, văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật… giữa Việt Nam và EU không ngừng phát triển. Về hợp tác phát triển, 10 năm qua, các nước EU dành cho Việt Nam khoản viện trợ ODA hơn hai tỷ USD, trong đó phần lớn là viện trợ không hoàn lại để thực hiện nhiều dự án quan trọng về y tế, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, cung cấp nước sạch, hỗ trợ cải cách hành chính, xóa đói giảm nghèo, văn hóa, giáo dục – đào tạo… ủy ban châu Âu (EC) – cơ quan hành pháp cao nhất của EU, cũng dành cho Việt Nam sự giúp đỡ rất có ý nghĩa. Trong những năm 1991 – 1995, viện trợ của EC chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực phát triển nông thôn, nhân đạo, trong đó có chương trình tái hòa nhập cho người Việt Nam di tản hồi hương với tổng kinh phí hơn 70 triệu USD. Đây là một chương trình rất có hiệu quả và tiếp tục phát huy tác dụng thông qua quỹ tín dụng cho người hồi hương và chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra EC còn hỗ trợ về bảo vệ môi trường, các tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ các doanh nghiệp EU đầu tư vào Việt Nam… Từ năm 1995 đến 2000, viện trợ của EC tiếp tục tăng lên từ 32 triệu Ecu/năm (tương đương trên 40 triệu USD) giai đoạn 1994-1995 lên 52 triệu Ecu/năm (tương đương 67 triệu USD) trong những năm 1996-2000. Viện trợ này tiếp tục được đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên trong chính sách chung của Việt Nam, như phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực, y tế, hỗ trợ cải cách hành chính, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế (như giúp Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO)… Đây cũng là các mục tiêu chủ yếu trong chiến lược hợp tác với Việt Nam của EC nhằm góp phần giúp nền kinh tế – xã hội Việt Nam phát triển ổn định và bền vững. Việt Nam và EU đều cho rằng việc triển khai thực hiện các chương trình hợp tác phát triển là có hiệu quả, tuy vậy do còn những vướng mắc về thủ tục và bệnh quan liêu, nên kết quả cũng có những hạn chế và chưa đáp ứng sự mong đợi của cả hai bên. Quan hệ buôn bán thương mại Việt Nam – EU phát triển rất khả quan, trong 10 năm từ 1990-1999 với quy mô tăng hơn 12 lần và tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 32%. Năm 1999, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt gần 4.500 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu hơn 3.300 triệu USD, nhập khẩu 1.120 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang EU đạt khoảng 1.400 triệu USD. Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang EU bao gồm hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà-phê, thủ công mỹ nghệ… Việt Nam nhập khẩu từ EU chủ yếu là máy móc, thiết bị công nghiệp, hóa chất, tân dược, thực phẩm chế biến… Việt Nam và EU đã dành cho nhau chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và EC cam kết dành cho hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi phổ cập (GSP), gia hạn và tăng hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Đặc biệt từ tháng 10-1999 đến nay, EC đã công nhận hơn 40 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào danh sách 1, tức là đạt tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh của EU, được xuất vào thị trường EU mà không bị kiểm tra thường xuyên. Đây là một lợi thế quan trọng đối với các hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và các doanh nghiệp chưa được công nhận vào danh sách 1 cần tiếp tục phấn đấu để đạt được tiêu chuẩn về chất lượng và vệ sinh mà EC quy định. Hiện nay, xuất khẩu sang EU chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi đó, giá trị thương mại của EU với Việt Nam chỉ chiếm 0,12% tổng kim ngạch ngoại thương của họ. Do đó, việc nhập siêu đối với thị trường Việt Nam không có ảnh hưởng gì đối với quan hệ buôn bán – thương mại của EU nói chung. Tuy vậy, về lâu dài lúc nền kinh tế Việt Nam đã phát triển ổn định và có tích lũy khá, chúng ta cũng cần tranh thủ nhập khẩu những mặt hàng có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao từ khu vực Tây – Bắc Âu. Để thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại với EU (trước hết là với các nước thành viên quan trọng như Đức, Pháp, Anh, Italy), doanh nghiệp Việt Nam cần phải năng động hơn, đa dạng mặt hàng, nâng cao chất lượng, tìm hiểu luật lệ của EC, nắm bắt cơ hội và phối hợp tốt giữa các doanh nghiệp trong quan hệ buôn bán với EU… Thực tế vừa qua cho thấy vai trò “ngoại giao làm kinh tế” của ngành ngoại giao đã đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy buôn bán của Việt Nam với EU nói riêng và trong sự phát triển hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và EU nói chung. Lĩnh vực hợp tác lớn thứ ba giữa Việt Nam và EU là đầu tưu. Chính sách đầu tưu nước ngoài và những điều kiện vật chất, nhất là hạ tầng cơ sở của Việt Nam, ngày càng tốt hơn đã và đang tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó có các nước EU. Tổng số vốn đăng ký đầu tư của EU vào Việt Nam tính đến nay đạt tới 5.380 triệu USD với 322 dự án được cấp giấy phép. Tuy vậy, 71 dự án đã hết hạn, giải thể hoặc chuyển nhượng vốn. EU còn 251 dự án với tổng số vốn đăng ký là 4.380 triệu USD, chiếm 10% vốn dự án và 12,2% vốn đăng ký của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam. Các nước EU đầu tưu lớn vào Việt Nam gồm Pháp (104 dự án, vốn đăng ký 1.789 triệu USD), Anh (29 dự án, vốn đăng ký là 1.047 triệu USD) và Hà Lan (36 dự án, vốn đăng ký là 578 triệu USD)… Đầu tư của EU tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp như dầu khí, điện, nước, xây dựng cơ sở hạ tầng, chế biến nông sản thực phẩm, viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng… Các dự án đầu tư của EU nhìn chung hoạt động có hiệu quả và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đạt mức doanh thu 2,3 tỷ USD, thu hút hơn 23.000 lao động Việt Nam. Tuy vậy, so với tiềm năng và vốn đầu tư ra nước ngoài của EU, thì số vốn họ đầu tư vào Việt Nam còn quá nhỏ bé. Đây cũng là điều mà các nhà hoạch định chính sách và giới doanh nghiệp của Việt Nam phải suy nghĩ làm sao thu hút được thêm đầu tư của các nước EU trong thời gian tới. Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục – đào tạo, sự hợp tác giữa Việt Nam và EU ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu. Trong những năm từ 1996 đến 1999, EU tài trợ cho chương trình “liên kết các trường đại học khoa học và kỹ thuật” do cơ quan đại học của khối các nước có sử dụng tiếng Pháp (AUF) tổ chức. Tiếp đó là dự án “hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo” với 3 hợp phần chính là hỗ trợ về thể chế, về quản lý và về sư phạm nhằm tăng cường hiệu quả của mô hình giảng dạy, trước hết là trong các trường tiểu học. Ngoài ra, hàng trăm sinh viên, nghiên cứu sinh và công nhân kỹ thuật… của Việt Nam sang học tập, nghiên cứu hoặc thực tập tại các trường đại học, học viện, các cơ sở công nghiệp tại các nước EU theo chương trình hợp tác ngắn hạn hoặc dài hạn giữa hai bên. Trong năm 1998-1999, cuộc triển lãm nghệ thuật “Việt Nam ở thế kỷ XX” đã được tổ chức thành công ở Brussels (Bỉ) và Palermo (Italy) góp phần nâng cao hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam với một nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, nhưung cũng rất gần gũi với những giá trị nhân văn chung của nhân loại. Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ khác cũng được phối hợp tổ chức giữa các đối tác Việt Nam và EU. Sự hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục – đào tạo có ý nghĩa lớn trong quan hệ giữa Việt Nam và EU, và đang có đà phát triển. Hiện nay, ngoài những lĩnh vực hợp tác lớn nói trên, quan hệ du lịch giữa Việt Nam và EU cũng có nhiều nét nổi bật thông qua những dự án hỗ trợ ngành du lịch Việt Nam, góp phần hấp dẫn một lượng khách châu Âu đáng kể vào du lịch và tìm hiểu thị trường đầu tưu, kinh doanh và buôn bán ở Việt Nam. Đây cũng là một tiềm năng lớn nếu chúng ta biết khai thác sẽ đóng góp không nhỏ cho sự phát triển các mối quan hệ hợp tác khác, trước hết là về chính trị, kinh tế, thương mại và đầu tưu. Mười năm qua, đặc biệt là từ khi giữa Việt Nam và EU có Hiệp định khung về hợp tác (năm 1995) đến nay, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU đã chuyển về chất và đạt tới một tầm cao mới với chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thu ư Lê Khả Phiêu đến ủy ban châu Âu (EC) ở Brussels cùng với những cuộc trao đổi thẳng thắn và bổ ích với Chủ tịch ủy ban châu Âu Romano Prodi cùng nhiều quan chức cấp cao của EC tháng 5-2000. Đây cũng là chuyến thăm tiếp nối ngay sau khi Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hữu nghị chính thức Pháp và Italy – hai thành viên quan trọng của EU và cũng là hai đối tác lớn của Việt Nam ở Tây – Bắc Âu. EC đã chính thức công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Sự công nhận này tạo thêm điều kiện thuận lợi trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tu ư giữa Việt Nam và EU. Quan hệ Việt Nam với EU đã chuyển từ hình thái mang tính chất chính trị – ngoại giao là chủ yếu sang một hình thái hợp tác năng động, vừa song phương, vừa đa phương; từ tiếp nhận viện trợ là chủ yếu chuyển dần sang hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học – kỹ thuật… trên cơ sở hai bên đều có lợi. Quan hệ hợp tác Việt Nam – EU lại có thêm điều kiện để phát triển khi sự hợp tác ASEAN – EU và hợp tác á – Âu (ASEM) được quan tâm thúc đẩy với nhiều sáng kiến và các dự án hợp tác phong phú, đa dạng và đan xen lẫn nhau.

Mục lục bài viết

  • 1.Lịch sử mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU)
  • 2.Cam kết của EU tại Đông Nam Á và chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’
  • 3.Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (FTA Việt Nam-EU)
  • 4.Giảm thuế quan
  • 5.Rào cản phi thuế quan (NTBs)

1.Lịch sử mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU)

Cho tới năm 1992, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và EU mới thực sự bắt đầu, khi Việt Nam và Cộng đồng châu Âu (nay là EU) kí kết Hiệp định dệt may – một trong những thoả thuận thương mại đầu tiên của Việt Nam với đối tác ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hai năm trước đó, Cộng đồng châu Âu đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao đầu tiên với Việt Nam thông qua việc hỗ trợ phát triển cho một nền kinh tế mới thực hiện tiến trình cải cách. Hợp tác chính trị và kinh tế giữa hai đối tác ngày càng được thắt chặt. Ngày 17/7/1995, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu đã kí kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế. Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 1/6/1996, thiết lập mối quan hệ kinh tế giữa hai đối tác dựa trên bốn mục tiêu: (i) Tăng cường thương mại và đầu tư song phương; (ii) Hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam và nâng cao điều kiện sống cho người nghèo; (iii) Hỗ trợ cho nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam nhằm tiến tới nền kinh tế thị trường; (iv) Bảo vệ môi trường. Xét về triển vọng thương mại, thành tựu quan trọng nhất của Việt Nam là giành được MFN đối với hàng xuất khẩu, nhờ đó giảm được rào cản thương mại đáng kể cho những nhà sản xuất của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường EU, thông qua đó tăng cường luồng thương mại giữa hai bên. Hiệp định đã thành lập Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam-EU, tạo ra diễn đàn thảo luận cấp cao về phát triển kinh tế và chính trị giữa Việt Nam và EU. Uỷ ban này sẽ thảo luận về biện pháp tăng cường mối quan hệ thương mại và đầu tư, nâng cao năng lực của Việt Nam, tăng cường cải cách thể chế và quản lí, đẩy mạnh hợp tác phát triển, khoa học và công nghệ. Trong khuôn khổ hợp tác, EU đã và đang hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế thông qua nhiều dự án và các chương trình phát triển. Một trong những lĩnh vực trọng điểm là thương mại quốc tế. Theo đó, một trong những dự án nổi bật nhất đó là Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (viết tắt là ‘MUTRAP’), đã được thực hiện đến giai đoạn III, tính đến năm 2012, tạo tiền đề cho Việt Nam gia nhập WTO. EU luôn ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO, đồng thời EU cũng là đối tác đầu tiên của Việt Nam trong các vòng đàm phán song phương tại WTO. Đây là kết quả của quá trình hợp tác thương mại ngày càng sâu rộng giữa hai đối tác. Đến năm 2004, Việt Nam và EU đã kí Hiệp định tiếp cận thị trường, theo đó loại bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam và tăng cường khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp của EU. Việt Nam đã gia nhập WTO ngày 11/1/2007. Kể từ đó, mối quan hệ thương mại giữa hai đối tác chịu sự điều chỉnh của luật WTO. Tuy nhiên, hai đối tác vẫn tăng cường hợp tác sâu rộng hơn về các vấn đề thương mại. Nhân dịp chuyến viếng thăm chính thức lần đầu tiên tới Việt Nam của Chủ tịch Uỷ ban châu Âu từ ngày 25 đến ngày 27/11/2007, Việt Nam và EU đã tăng cường mối quan hệ song phương thông qua việc khởi động quá trình đàm phán Hiệp định về đối tác và hợp tác toàn diện (‘PCA’). Vòng đàm phán đầu tiên diễn ra vào tháng 6/2008, và đến tháng 7/2009, Việt Nam và EU đã hoàn thành bốn vòng đàm phán. Tại Hội nghị cấp cao ASEM lần thứ 8 tại Bỉ, ngày 4/10/2010, Việt Nam đã kí Hiệp định khung về đối tác và hợp tác toàn diện với EU.

2.Cam kết của EU tại Đông Nam Á và chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’

EU đã và đang kí kết hiệp định thương mại ưu tiên với nhiều nước. Năm 2007, Uỷ ban châu Âu triển khai chiến lược thương mại mới với tham vọng đàm phán các FTAs với nhiều đối tác chiến lược. Uỷ ban châu Âu đã chính thức thiết lập chiến lược châu Âu mới với thông điệp ‘châu Âu toàn cầu – cạnh tranh trên thế giới’, như là một chính sách thương mại mới của EU. Trong khuôn khổ chính sách đó, một trong những ưu tiên của EU là kí những FTAs mới đầy tham vọng với các đối tác chiến lược. Về nội dung, mục tiêu của ‘châu Âu toàn cầu’ hướng tới những FTAs mạnh, toàn diện, theo mô hình ‘WTO+’. Thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng cần phải loại bỏ, và có thể sẽ áp dụng đối với ít nhất 90-95% dòng thuế quan và quy mô thương mại, nhằm tuân thủ yêu cầu của Điều XXIV GATT. Tự do hoá phải mở rộng ra cả lĩnh vực thương mại dịch vụ và đầu tư. Những điều khoản về thương mại dịch vụ phải phù hợp với yêu cầu tại Điều V GATS. Một hiệp định đầu tư mẫu của EU đã được dự tính và phát triển dựa trên sự hợp tác với các nước thành viên EU. Phải có những điều khoản ngoài những quy định của WTO về cạnh tranh, mua sắm chính phủ, IPRs và thuận lợi hoá thương mại, tiêu chuẩn lao động và môi trường. Quy tắc xuất xứ (‘RoO’) phải được đơn giản hoá. Nhìn chung, phải có các quy định điều chỉnh rõ ràng và hợp tác quản lí, đặc biệt là thảo luận về các NTBs, đồng thời phải tăng cường các nghĩa vụ minh bạch, các thoả thuận công nhận lẫn nhau, hài hoà hoá pháp luật, đối thoại về pháp luật và hỗ trợ kĩ thuật. Trên cơ sở chiến lược mới này, ngày 23/4/2007, Hội đồng châu Âu (Hội đồng bộ trưởng EU) đã uỷ quyền cho Uỷ ban châu Âu bắt đầu đàm phán một FTA với ASEAN. Các cuộc đàm phán chính thức được khởi động tại cuộc tham vấn giữa EU và các bộ trưởng kinh tế ASEAN diễn ra tại Brunây Đa-ru-xa-lam vào ngày 4/5/2007. Các cuộc đàm phán giữa EU và ASEAN được dự định diễn ra theo cách tiếp cận ‘khu vực-khu vực’, trong khi đó thừa nhận và có tính đến những mức độ phát triển và năng lực khác nhau của từng thành viên ASEAN. Do tiến trình đàm phán EU-ASEAN diễn ra chậm, nên tháng 3/2009, cả hai bên đã nhất trí thoả thuận hoãn vòng đàm phán. Ngày 22/12/2009, Uỷ ban châu Âu đã thông báo rằng các nước thành viên EU đã uỷ quyền cho Uỷ ban châu Âu tiến hành đàm phán các FTAs với từng nước thành viên ASEAN. Các cuộc đàm phán về FTA mới giữa Việt Nam và EU đã được khởi động trong khuôn khổ chiến lược mới này.

Xem thêm  Số đỉnh của khối đa diện đều loại (5;3 là)

3.Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (FTA Việt Nam-EU)

FTAs đã ngày càng trở thành công cụ chính sách thương mại tinh vi và phức tạp. EU đã bắt đầu sử dụng các FTAs một cách có hệ thống từ những năm 1990 để mở rộng tầm ảnh hưởng kinh tế đối với các nước láng giềng. Đồng thời, các FTAs cũng nhằm tới các vấn đề phi thương mại. Thế hệ các FTAs mới có thể được mô tả như những công cụ chính sách kinh tế đối ngoại chín muồi giúp giảm các rào cản thương mại một cách hiệu quả. Được đàm phán trong khuôn khổ của sáng kiến ‘châu Âu toàn cầu’, làn sóng các FTAs mới đã mang lại một trật tự pháp luật được cấu trúc một cách công bằng. Ngoài vấn đề thương mại cổ điển như thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ, các FTAs hiện đại còn bao gồm các quy định về môi trường, cạnh tranh, mua sắm chính phủ và đầu tư. Mục này sẽ mô tả nội dung chính của FTA trong tương lai và sẽ đưa ra những phân tích chính sách theo cách chúng sẽ được áp dụng trong bối cảnh quan hệ thương mại với Việt Nam.

4.Giảm thuế quan

Giảm thuế quan đã luôn là vấn đề cốt lõi của bất kì FTA nào và FTA Việt Nam-EU cũng không phải là ngoại lệ. Tuỳ thuộc vào đối tác thương mại trong FTA và đặc biệt là đối với các DCs, việc giảm thuế quan đối với ‘hầu hết thương mại’ luôn là vấn đề trọng tâm của các cuộc đàm phán. Tất nhiên, việc giảm thuế quan sẽ được cả hai bên thực hiện; nhưng Việt Nam sẽ phải chịu gánh nặng lớn hơn. Trên thực tế, khi xem xét mức thuế quan của EU đối với hàng hoá, có thể thấy rõ thuế quan áp đối với tất cả các sản phẩm đều thấp, trừ trường hợp duy nhất đáng chú ý là thuỷ sản và nông sản. Trong các cuộc đàm phán thương mại, châu Âu sẽ luôn duy trì các rào cản thương mại đối với nông sản và thuỷ sản ở mức cao, nhưng lại giảm thuế quan đối với các sản phẩm khác. Bởi vì các nước đối tác không thể chấp nhận sự bất cân xứng của các nhượng bộ thương mại, do đó EU thường thỏa hiệp về các vấn đề khác để cân bằng lại các nhượng bộ thương mại. Ví dụ, ngăn cản nông sản được trợ cấp của EU xâm nhập thị trường nội địa của Việt Nam. EU thường xuyên loại trừ hoặc hạn chế nghiêm ngặt nhượng bộ thương mại về các sản phẩm như thịt bò, đường, một loạt các sản phẩm sữa, một số ngũ cốc và các sản phẩm ngũ cốc, gạo, một số loại hoa quả tươi và rau, một số hoa cắt cành và thuỷ sản. Các nhà đàm phán EU cũng sẽ dành cho các nước đối tác thời gian lâu hơn để đạt được tự do hoá theo lộ trình đối với thương mại hàng hoá. Về khía cạnh này, trong khi thông thường EU sẽ hoàn thành quá trình tự do hoá trong vòng 5 năm, Việt Nam có thể được gia hạn trong khoảng thời gian từ 5 đến 15 năm. Việc loại bỏ thuế quan được thực hiện qua một giai đoạn chuyển tiếp để sản xuất nội địa có thể dần dần thích ứng với việc giảm thuế quan. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ giá cả thấp hơn và nhà xuất khẩu có thể tăng cường khả năng cạnh tranh.

5.Rào cản phi thuế quan (NTBs)

Trong bối cảnh chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’ mới, EU tìm cách tiếp cận thị trường sâu rộng hơn thông qua việc loại bỏ các NTBs. Rào cản này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như tiêu chuẩn, yêu cầu, quy định, thủ tục kiểm tra và chứng nhận, và thường được phân loại thành rào cản kĩ thuật trong thương mại (‘TBT’) – áp dụng đối với hàng công nghiệp, và các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động-thực vật (‘SPS’) – áp dụng đối với động vật và sản phẩm từ động vật, thực vật và các sản phẩm thực vật. Các chi phí do NTBs gây ra là gánh nặng lớn, thường cao hơn so với thuế quan, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (‘SMEs’). Tuy nhiên, do hầu hết các NTBs đều hợp pháp, vì chúng theo đuổi các mục tiêu chính sách công cộng, nên thường khó xác định và loại bỏ chúng. Các FTAs hiện đại của EU bao gồm một hoặc nhiều phụ lục nhằm xử lí hiệu quả những rào cản này, và những rào khác được xác định như là những trở ngại quan trọng nhất để tiếp cận các thị trường nước ngoài trong các lĩnh vực có liên quan. Về bản chất, rất khó nhận diện và tiếp cận sâu vào thực tiễn quản lí của các đối tác thương mại. Do đó, các quy định về NTBs phần lớn chỉ có thể có giá trị thực tế khi được dựa trên mô hình pháp luật châu Âu. Trong bối cảnh của chiến lược NTBs, các FTAs của EU thường bao gồm một chương nhắc lại các quy định của Hiệp định TBT của WTO. Ngoài ra, các FTAs cũng ghi lại các điều khoản để hợp tác dựa trên các tiêu chuẩn và các quy định, và khi thích hợp sẽ thiết lập đối thoại giữa các nhà quản lí, với ý định đơn giản hoá và tránh sự mâu thuẫn không cần thiết về các yêu cầu kĩ thuật áp dụng cho sản phẩm. Hiệp định bao gồm cam kết cụ thể về thực hành quản lí tốt: minh bạch trong lập pháp, sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế nếu có thể, cho đối tác cơ hội để thảo luận về các quy định pháp luật trước khi thực hiện và cho đối tác đủ thời gian nhận xét và phê chuẩn. Tương tự, cam kết này cũng được áp dụng đối với các tiêu chuẩn kĩ thuật. Ngoài ra còn có quy định về đánh dấu và dán nhãn, theo đó yêu cầu về đánh dấu hoặc dán nhãn sản phẩm sẽ được giảm càng nhiều càng tốt và sẽ không phân biệt đối xử. Cuối cùng là cơ chế phối hợp được thiết lập giữa các thành viên FTA nhằm xem xét và giải quyết bất kì vấn đề cụ thể nào. Các phụ lục nhằm làm hài hoà sự bất đối xứng trong các quy định giữa hai nước. Thông thường điều này diễn ra khi công nhận tiêu chuẩn quốc tế tương đương với tiêu chuẩn nội địa. Về FTA Việt Nam-EU, sẽ là hợp lí nếu có phụ lục về các ngành ô-tô, điện tử và máy móc – những lợi ích xuất khẩu chủ yếu của EU sang thị trường Việt Nam

>> Xem thêm: Decrease import tax rate for oils and petroleum oils to 18%

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>