Quan điểm xây dựng chương trình KHTN

Đánh giá của bạn post
Quan diem xay dung chuong trinh khtn ahr0chm6ly90aglldgjpag9wa2hvas5jb20vcxvhbi1kawvtlxhhes1kdw5nlwnodw9uzy10cmluac1tb24ta2hvys1ob2mtdhutbmhpzw4vaw1hz2vyxzffnduwmf83mdauanbn

Quan diem xay dung chuong trinh khtn ahr0chm6ly90aglldgjpag9wa2hvas5jb20vcxvhbi1kawvtlxhhes1kdw5nlwnodw9uzy10cmluac1tb24ta2hvys1ob2mtdhutbmhpzw4vaw1hz2vyxzjfnduwmf83mdauanbn

GD & TĐ – Khoa học tự nhiên là môn học được phát triển từ khoa học lớp 4, lớp 5 (cấp tiểu học), được dạy ở các lớp 6, 7, 8 và 9, với tổng số 140 tiết / năm học. Khoa học tự nhiên giúp học sinh phát triển các đặc điểm từ bậc tiểu học

tin tức, giáo dục, đào tạo, truyền thông, giao lưu, khoa học trẻ, văn hóa gia đình, sức khỏe và sắc đẹp, thể thao toàn cầu, giáo dục và đào tạo – khoa học tự nhiên (KHTN) là môn học phát triển từ khoa học lớp 4 và lớp 5 (cấp 4 và 5 tiểu học) ở các Lớp 6, 7, 8 và 9, với tổng số 140 tiết học mỗi năm học. Khoa học tự nhiên giúp học sinh phát triển các đặc điểm từ bậc tiểu học

Khoa học và công nghệ là gì?

Trả lời câu hỏi này, PGS.TS Mai Sĩ Tuấn – Chủ biên chương trình Khoa học tự nhiên – cho biết: Khoa học tự nhiên là môn học được tạo ra và phát triển trên cơ sở vật lý, hóa học, sinh học và khoa học. Trái đất… Đồng thời, sự tiến bộ của nhiều ngành khoa học liên quan khác như toán học, tin học… cũng góp phần kích thích sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học tự nhiên.

Đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng, quá trình, thuộc tính thiết yếu đối với sự tồn tại và vận động của giới tự nhiên. Vì vậy, trong khoa học tự nhiên, các nguyên tắc và khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được đưa vào tất cả các vòng tròn nội dung. Trong quá trình dạy học, các vòng tròn nội dung được sắp xếp sao cho chúng được kết hợp theo nguyên tắc bản chất và đảm bảo tính logic bên trong của từng vòng tròn nội dung.

Trong chương trình giáo dục, các môn khoa học tự nhiên được đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ sở và là môn học bắt buộc, giúp học sinh phát triển những phẩm chất, năng lực đã được hình thành và trưởng thành ở trường tiểu học; Hình thành Giải pháp học tập (PP), hoàn thiện kiến ​​thức và kỹ năng cần thiết để học liên tục lên THPT, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động Bạn đang xem: Quan điểm xây dựng chương trình chủ đề Khoa học tự nhiên trả lời câu hỏi “Vì sao phải xây dựng các môn Khoa học tự nhiên?” Theo những gì mà PGS.TS Mai Sĩ Tuấn cho biết, Trong thế giới tự nhiên, mọi sự vật, hiện tượng kỳ lạ đều là một thể thống nhất. Phần nghiệp vụ khoa học (hoặc môn học) là việc tìm kiếm và nghiên cứu sâu các sự vật và hiện tượng lạ từ một góc độ cụ thể. Khi xử lý một yếu tố của tự nhiên, không nhất thiết chỉ sử dụng kiến ​​thức và kỹ năng của một ngành khoa học mà phải sử dụng cả những kỹ năng và kiến ​​thức tổng hợp từ nhiều ngành khác nhau. Tính nhất quán trong giáo dục khoa học được thể hiện ở cả đối tượng tiêu dùng, phương pháp nhận thức, các nguyên tắc và khái niệm cơ bản. Do thống nhất theo các nguyên lý của tự nhiên nên khoa học tự nhiên không phải là một tổ hợp máy móc của các môn học riêng biệt. Trên thế giới có nhiều nước dạy các môn “khoa học tự nhiên” ở cấp trung học phổ thông. Nền tảng thay vì dạy 3 môn Lý, Hóa, Sinh riêng biệt. Nội dung kiến ​​thức và kỹ năng Vật lý, Hóa học và Sinh học liên kết với nhau thông qua các nguyên lý và khái niệm chung của tự nhiên. Việc xây dựng các chủ đề khoa học tự nhiên tránh trùng lặp kiến ​​thức và kỹ năng giữa các chủ đề, đồng thời tạo điều kiện cho việc tiếp cận thiết kế một số chủ đề tích hợp như biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Tài nguyên thiên nhiên … Khoa học và công nghệ là môn học quan trọng đối với sự trưởng thành toàn diện của học sinh, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và trưởng thành nhân cách khoa học của học sinh phổ thông. Cùng với toán học, công nghệ và tin học, các môn khoa học tự nhiên góp phần nâng cao giáo dục STEM, góp phần phân bổ nhu cầu nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Xem thêm  Cách chỉnh dns cho máy tính

Các quan điểm xây dựng chương trình

PGS.TS Mai Sĩ Tuấn cho biết: Chương trình KHTN thể hiện tiềm năng và nhu cầu của một chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và toàn diện, bao gồm: định hướng chung của các môn học đại học và xu hướng xây dựng chương trình. Chương trình Khoa học Tự nhiên Các môn khoa học ở trường trung học cơ sở bao gồm: Quan điểm hình thành và tăng trưởng phẩm chất và năng lượng học sinh: Chương trình Khoa học tự nhiên góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lượng học sinh thông qua nội dung giáo dục. Với cốt lõi là những kiến ​​thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực bộc lộ sự đổi mới, hiện đại hóa; Chú trọng thực hành, vận dụng kiến ​​thức, kỹ năng ứng xử với các yếu tố trong học tập và cuộc sống; Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức, thực hiện giáo dục nâng cao tính chủ động, tiềm năng của mỗi học sinh; PP đã được kiểm tra và công nhận là phù hợp với tiềm năng giáo dục. Chương trình bảo vệ sự phát triển năng lượng của người học qua các cấp và lớp; Tạo nền tảng cho việc học tập tiếp tục và học tập suốt đời; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi giữa các quy trình trong GD.
Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Sĩ Tuấn

Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Sĩ Tuấn

Xem thêm: Hé lộ ý nghĩa số 6 khi kết hợp với các con số khác – Beatwiki

Quan điểm giáo dục tích hợp: Khoa học tự nhiên là một nghề dịch vụ được thống nhất bởi đối tượng sử dụng, phương pháp nhận thức và các khái niệm, nguyên tắc chung, vì vậy việc dạy học các môn khoa học tự nhiên cần phải làm cho học sinh nhận thức được đơn vị này. Mặt khác, xu hướng tăng trưởng năng lượng gắn với các trường hợp thực tiễn cũng cần có phương pháp giáo dục tích hợp. Nhiều nội dung giáo dục phải được tích hợp vào giáo dục khoa học: tích hợp giáo dục khoa học với công nghệ, giáo dục sức khỏe, giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển vững chắc …

Bộ môn khoa học quan tâm đến nội dung nhận thức gần gũi với đời sống hàng ngày của học sinh, đề cao việc vận dụng kiến ​​thức, kỹ năng khoa học vào các tình huống thực tế; Góp phần phát triển khả năng thích ứng của học sinh trong một thế giới luôn thay đổi. Chương trình đồng thời đảm bảo tính khả thi, tương xứng với nguồn lực cần thiết để thực hiện chương trình như giáo viên, thời lượng, cơ sở vật chất …

Quan điểm Kế thừa và Trưởng thành: Chương trình Khoa học tự nhiên bảo vệ sự kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chủ đề chương trình hiện hành ở nước ta, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm và kỹ năng của các nền giáo dục tiên tiến và tiên tiến; Đảm bảo rằng các lớp học và bằng cấp được liên kết chặt chẽ với nhau và liên kết với Chương trình Vật lý, Hóa học và Sinh học ở cấp trung học phổ thông và với Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp. Xem thêm: Tên trường Đại học Ngoại ngữ và Quốc tế, Cao đẳng Ngôn ngữ Hàn Quốc, Nhập môn Cao đẳng Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc. Quan điểm giáo dục toàn diện: Chương trình Khoa học tự nhiên góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lượng của học sinh theo nội dung giáo dục với các kỹ năng, kiến ​​thức và kỹ năng cơ bản và thiết thực, thể hiện đại học, văn minh và hiện đại, tập trung vào thực hành, ứng dụng kỹ năng và kiến ​​thức, kỹ năng ứng phó với các yếu tố trong học tập và cuộc sống; Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức, thực hiện giáo dục nâng cao tính chủ động, tiềm năng của mỗi học sinh; PP đã được kiểm tra và công nhận là phù hợp với tiềm năng giáo dục. Chương trình bảo vệ sự phát triển năng lượng của học sinh qua các lớp học và lớp học; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi giữa các hoạt động trong giáo dục; Tạo nền tảng cho việc học tập suốt đời. Quan điểm kết hợp lý thuyết và thực hành, phù hợp với thực tế nước ta: Thông qua các hoạt động giải trí thực hành trong phòng thực hành và thực hành, chương trình Khoa học tự nhiên giúp học sinh nắm vững lý thuyết, và đồng thời có khả năng vận dụng kiến ​​thức và kỹ năng, nghiệp vụ khoa học tự nhiên vào thực tế cuộc sống.

Xem thêm  Nhược điểm của phương pháp khô là

Góp phần hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh

Có sự tham gia của GS.TS Mai Sĩ Tuấn, việc tăng trưởng năng lượng chất lượng, năng lượng chung và năng lượng đủ điều kiện được thực hiện thông qua nội dung dạy học các môn khoa học tự nhiên. Môn Khoa học giúp học sinh biết quý trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên; có thái độ và hành vi tôn trọng các nguyên tắc chung về bảo tồn thiên nhiên; Có hứng thú tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên và vận dụng kiến ​​thức, kĩ năng để bảo vệ thiên nhiên đất nước, đất nước. Thông qua tiết dạy bộ môn TCDN rèn cho học sinh lòng yêu lao động, có ý chí vượt khó; Bảo vệ và giữ gìn sức khoẻ của bản thân và các thành viên trong gia đình trong gia đình và hội đồng một cách có ý thức.

Bộ môn khoa học tự nhiên góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông và góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách khoa học của học sinh; Có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh các phẩm chất tin cậy, trung thực, khách quan, yêu thiên nhiên, hiểu biết, tôn trọng và biết vận dụng các quy luật của giới tự nhiên để biết cách ứng xử với giới tự nhiên theo yêu cầu. của sự phát triển bền vững; Đồng thời hình thành và phát triển các khả năng tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Môn khoa học tự nhiên đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh năng lực của khoa học tự nhiên, bao gồm các thành phần sau: nhận thức về khoa học tự nhiên, được biểu hiện bằng khả năng thực hiện, giải thích và vận dụng những kiến ​​thức, kỹ năng tổng hợp cơ bản. Thành phần cấu trúc, sự phong phú, mạng lưới các hệ thống, các quy luật vận hành, tương tác và biến đổi trong giới tự nhiên; Với các chủ đề khoa học: vật chất và sự biến đổi của nó, cơ thể sống, nguồn năng lượng và sự biến đổi vật chất, trái đất và bầu trời; vai trò và hành vi tương thích với thiên nhiên và môi trường tự nhiên; Hiểu biết quốc tế về tự nhiên, thể hiện ở khả năng phát triển một số kỹ năng cơ bản về tìm hiểu và khám phá môi trường tự nhiên Một số sự vật, hiện tượng lạ trong thế giới tự nhiên và trong cuộc sống: Quan sát, thu thập thông tin. dự đoán, tìm kiếm, phân tích và xử lý dữ liệu; hiệu quả mong đợi của nghiên cứu và điều tra; suy nghĩ và sáng tỏ; Thông qua môn học này, học sinh bước đầu vận dụng các kĩ năng, kiến ​​thức về khoa học tự nhiên và kĩ năng đã học để giải quyết các yếu tố của một số trường hợp đơn giản trong thực tế; diễn đạt, dự đoán và giải thích các hiện tượng khoa học đơn giản kỳ lạ; Hành vi phù hợp trong một số trường hợp liên quan đến các yếu tố cá nhân, mái ấm gia đình và hội đồng; Thể hiện quan điểm cá nhân nhằm mục đích áp dụng các kỹ năng và kiến ​​thức thu được để bảo vệ thiên nhiên và môi trường, bảo tồn vạn vật tự nhiên và tăng trưởng bền vững và bền vững.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>