Nội dung nào dưới đây là ưu điểm cơ bản của Đại hội đại biểu toàn quốc lần 3 của Đảng

Đánh giá của bạn post

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và huấn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ II (1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan điểm, tư tưởng và chỉ đạo về nhiệm vụ hàng đầu của Cách mạng Việt Nam là tiến tới kháng chiến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Công nhân Việt Nam. Những quan điểm này của Người đã trở thành hệ thống giá trị lý luận quý báu, soi đường dẫn lối cho các đại hội đảng.

Noi dung nao duoi day la uu diem co ban cua dai hoi dai bieu toan quoc lan 3 cua dang

Đại hội đảng bộ lần thứ hai. (Ảnh: TL)

1. Những ấn tượng trong việc chuẩn bị cho hội nghị

Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ nhất diễn ra tại Ma Cao (tháng 3 năm 1935) đến Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 2 năm 1951) với khoảng thời gian 15 năm 8 tháng, khoảng thời gian dài nhất giữa hai nước. Trong thời gian đó, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều chuyển biến quan trọng, đặt ra những yêu cầu cấp thiết đòi hỏi Đảng phải giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn phù hợp với thời đại; Nó cần bổ sung và bổ sung cho đường lối cách mạng dân tộc dân chủ, chuyển hướng lên chủ nghĩa xã hội; hoạch định ngay các chính sách để đạt được thắng lợi trong cuộc kháng chiến; Đặc biệt, đảng phải công khai lãnh đạo cách mạng với tư cách là đảng cầm quyền.

Để hoàn thành nhiệm vụ gian khổ và vẻ vang này, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tiến hành một quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, tỉ mỉ, để lại những dấu ấn và bài học kinh nghiệm quý báu. Ngay sau chiến thắng Việt Bắc, Đại hội Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến 17-1-1948 đã đặt vấn đề chuẩn bị Đại hội lần thứ II của Đảng. Tiếp đó, Đại hội Cán bộ lần thứ VI (ngày 1-1-1949) chỉ rõ việc chuẩn bị Đại hội lần thứ II của Đảng với hai nội dung quan trọng: “Thứ nhất, Trung ương chuẩn bị kịp thời dự thảo, có dự thảo riêng của các ngành; thứ hai là các địa phương. phải gửi báo cáo mọi mặt về trung ương trước tháng 3 năm 1949. ”(1) Trong báo cáo của đại hội, Tổng Bí thư Trung Chính nhấn mạnh, công tác chuẩn bị cho đại hội đảng bộ lần thứ II là một trong những nhiệm vụ chính, không thể chậm trễ đại hội. nhằm mục đích: “Sửa đổi chương trình nghị sự và điều lệ chính trị của đảng. Rút kinh nghiệm cả nước về mọi mặt quân sự, vận động quần chúng, của Đảng và xác định nhiệm vụ của Đảng ta về mọi mặt trong thời kỳ kháng chiến hiện nay ”(2).

Kết luận hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ việc đầu tiên phải làm là “chấn chỉnh nội bộ của đảng, nêu những việc chính, nắm lấy và làm. Đảng giống như một cái máy phát điện, bên trên hoạt động như ngọn đèn, cỗ máy mạnh mẽ sẽ thắp sáng ánh sáng ”(3).

Một trong những dấu ấn chuẩn bị cho hội nghị lần thứ hai là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi hội nghị trù bị với những chỉ đạo ngắn gọn, cô đọng, không chỉ phản ánh những ý chính, nội dung chính của hội nghị. Đại hội là “… kháng chiến, nhiệm vụ chủ yếu của Đại hội là tiến tới kháng chiến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng chính quyền địa phương” (4), nhưng cũng thể hiện rất quan tâm đến thành công của cuộc kháng chiến. Quốc hội bằng cách gợi ý các con đường để thảo luận. Giảng viên nhấn mạnh: “Tìm hiểu sâu, thảo luận thấu đáo các vấn đề chính; hiểu nội dung phát triển và mối quan hệ giữa vấn đề này với vấn đề khác; vấn đề cần hướng đến hiện tại và tương lai chứ không phải quá khứ; chỉ tư tưởng, chính sách, khẩu hiệu. và tổ chức cần được thảo luận kỹ lưỡng và nghiên cứu kỹ lưỡng ”(5).

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác chuẩn bị Hội nghị lần thứ hai diễn ra khoa học, chu đáo, kỹ lưỡng, điều đó cho thấy ý nghĩa đặc biệt của Hội nghị lần thứ hai, hội nghị cần tập trung giải quyết nhiều vấn đề cấp bách. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh thể hiện một dấu hiệu phương pháp luận quan trọng, đó là tập trung vào nhiệm vụ chính, nhiệm vụ chính, làm việc sâu sắc, cẩn trọng, quan tâm đến các mối quan hệ và sự phát triển từ hiện tại đến tương lai. Người đã nói “Hội đồng quân nhân của chúng ta cũng phải được quân sự hóa” (6) là để chỉ ra rằng mọi vấn đề phải xuất phát từ thực tế và từ những hoàn cảnh nhất định.

2- Những ấn tượng trong các văn kiện trình bày tại hội nghị thể hiện trọng tâm là nhiệm vụ tiến tới thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Công nhân Việt Nam.

Xem thêm  Viết số hạng thứ 8 của khai triển (2x-1/y)^13

Đại hội Đảng bộ lần thứ II được tổ chức tại xã Vinh Quang, huyện Chim Hòa, tỉnh Tuên Quang, từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, với 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự bị thay cho 766.349 đảng viên. Để tăng cường sức mạnh kháng chiến, Quốc hội đề ra 12 chính sách cơ bản nhằm huy động và tập hợp sức mạnh của cả một dân tộc quyết thắng. Đặc biệt, Đại hội đã nhất trí thông qua “chủ trương”, “điều lệ” cho đảng và quyết định đưa đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Hội LHPNVN.

Tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày báo cáo chính trị giải trình những chuyển biến trong nước và thế giới, những khó khăn mà Đảng và chính phủ gặp phải, nhất là những thuận lợi và khó khăn của Đảng. Người đặc biệt nhấn mạnh đến công tác xây dựng đảng, nói: “Đảng ta có nhiều thành tích, nhưng cũng không ít khuyết điểm, cần trung thực tự phê bình để sửa chữa, cần cố gắng sửa chữa để tiến bộ” (7). những khuyết điểm, yếu kém của Cán bộ, Đảng viên từ Trung ương đến địa phương như: “Ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối làm việc, phẩm chất chính trị và phương thức lãnh đạo còn rất phổ biến và mất cân đối nghiêm trọng. Đó là bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, bệnh nể nang ”(8) Báo cáo chính trị Đại hội II của Đảng chỉ rõ nguyên nhân yếu kém:“ Có bệnh này, bệnh khác trong đảng. Chính quyền trung ương cũng chịu một phần trách nhiệm Do trung ương chưa chú trọng công tác kiểm tra, đào tạo thần học tuy có nhưng chưa toàn diện và chưa đầy đủ, dân chủ trong nội bộ đảng chưa được thực hiện rộng rãi. Phê bình và tự phê bình. chưa trở thành nền nếp thường xuyên ”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội II của Đảng đã nhấn mạnh những vấn đề rất quan trọng: xác định những chuyển biến của tình hình thế giới; Các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam; Sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm của đảng viên. nhấn mạnh vai trò và bản chất của đảng; Nhân tố tạo nên sức mạnh nội tại của một quốc gia.

Noi dung nao duoi day la uu diem co ban cua dai hoi dai bieu toan quoc lan 3 cua dang

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, tháng 2 năm 1951. (Ảnh tư liệu của Ủy ban Quốc phòng)

Về công tác lý luận của đảng, tại đại hội đã có nhiều ý kiến ​​bàn về chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rõ phương pháp vận dụng, vận dụng sáng tạo nguyên lý này. Bác nói rõ: “Tôi thấy các đồng chí đến nói chuyện chủ nghĩa Mác hoài cũng đúng. Nhưng nói đến chủ nghĩa Mác thì phải vận dụng đúng chủ nghĩa Mác. Mấu chốt ở chỗ. Chủ nghĩa Mác là gì? Là người cộng sản. Như một người cộng sản, ai lãnh đạo? Giai cấp công nhân.).

Về tổ chức Đảng cộng sản của mỗi nước, căn cứ vào đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, lúc bấy giờ trên cơ sở Đảng cộng sản Đông Dương nên tổ chức một đảng cộng sản ở mỗi nước để lãnh đạo. sự nghiệp cách mạng. Dân tộc. Tại hội nghị, đồng chí Kaison Phumvihan, đại diện nhân dân Lào đã đáp lại lời đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhấn mạnh những thành công của Đảng Cộng sản Đông Dương trong việc lãnh đạo cách mạng Đông Dương trong 21 năm qua. Ba dân tộc, do tình hình thay đổi, “… Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Công nhân Việt Nam và hai tổ chức khác ở Mianma và Lào là rất đúng đắn và phù hợp với tình hình mới. ; ba dân tộc với ba quốc gia riêng biệt… Chúng tôi là những người cộng sản Lào. Chúng tôi nhất trí với đề xuất này không nghi ngờ gì nữa ”(11). Đại biểu Campuchia nói: “Tôi nhận thấy từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo rất thành công các cuộc cách mạng Việt Nam, Miến Điện và Lào, nhưng bây giờ cách mạng ba nước có ba đặc điểm khác nhau thì không được. có một đảng bao hàm, nhưng Myanmar và Lào sẽ thành lập hai đảng. ”khác nhau. Vì vậy, tôi rất hoan nghênh đề xuất rõ ràng về một báo cáo chính trị” (12).

Trước quan điểm và nguyện vọng của hai nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ vui mừng trước việc Đại hội quyết định thành lập ba đảng cộng sản ở ba nước. Ông nói: “Sau khi nghe các đồng chí ở Maine và Lào bày tỏ quan điểm, chắc hẳn Quốc hội cũng như tôi, chúng tôi rất khâm phục … chúng tôi cũng như những đứa trẻ, người cộng sản, nhà cách mạng. Bây giờ các cháu lớn rồi thì phải chia nhà, tách cửa sống khôn. “Tách riêng. Con trai có vợ, con gái có chồng. Sau này đông con cháu, từ nhỏ đến rất lớn, từ lớn. gia đình đến họ hàng, họ hàng càng đông, càng mạnh, càng nhiều người, càng nhiều việc, càng nhanh thành công ”(13).

Xem thêm  Sàng lọc ung thư cổ tử cung Bộ Y tế

Về lý do lấy tên Đảng Lao động Việt Nam: “Là để tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, củng cố khối liên minh công nhân, liên kết giai cấp công nhân với các tầng lớp nhân dân và những người lao động khác, đoàn kết các lực lượng dân tộc dân chủ công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng ”(14) và lấy tên là Đảng Công nhân Việt Nam Không những có ích cho sự đoàn kết toàn dân đánh thắng giặc ngoại xâm mà còn có ích cho việc đoàn kết các mặt trận chống đế quốc của nhân dân ba nước Việt Nam, Mianma, Lào chống đế quốc Pháp Mỹ, giành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chính vì Đảng Công nhân Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và nhân dân lao động, nên phải là Đảng của nhân dân Việt Nam” (15). Đây là một sáng tạo đặc biệt của Hồ Chí Minh khi nói về bản chất giai cấp công nhân trong Đảng theo điều kiện, hoàn cảnh của nước ta.

Các văn kiện trình tại Đại hội đã thể hiện dấu ấn, trí tuệ và công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Luận cương Cách mạng Việt Nam do đồng chí Trọng Chính đọc khẳng định Chủ tịch nước là người sáng lập, huấn luyện và lãnh đạo Đảng. Báo cáo nêu bật nhiều phẩm chất cao quý, đức độ, tài năng và lòng dũng cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là biểu tượng sáng ngời về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Đồng chí đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trung với đảng, với giai cấp và dân tộc. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh đến lòng dũng cảm, trí tuệ và tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng tôi nhận thấy rằng khi tình hình đổi mới, có điều kiện mới cho phong trào cách mạng thì phải xem xét lại ngay chủ trương, chính sách và phương pháp vận động. Căn cứ vào tình hình mới, phải xác định các chủ trương chiến lược, chiến thuật, không tuân theo khuôn khổ “cổ hủ” (16).

Những chỉ thị này do Người ban hành, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nó xuất hiện ở tất cả các hội nghị của Đảng, đặc biệt là Hội nghị toàn quốc lần thứ mười ba của Đảng. Đại hội khẳng định Đảng tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng thời kỳ; Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Chính sách đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; Tiếp tục nâng cao năng lực bản lĩnh, năng lực lãnh đạo hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế và xu thế phát triển của Việt Nam lúc bấy giờ.

———

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, h, 2001, tr 24.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 10, tr 149.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H., 2011, tr.15.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.15.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tr. 6, tr 14.

(6) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, t 7, tr 14.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, SĐT, Tập 7, Trang 32.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, trang 33.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr 35.

(10) Mang theo: Ban Tuyên giáo Trung ương – Tỉnh ủy Tuỵ Quang, Đại hội Đảng bộ Thủ đô Kháng chiến lần thứ II Tuỵ Quang, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 115.

(11) Theo: Ban Tuyên giáo Trung ương – Tỉnh uỷ Tuỵ Quang, Đại hội Đảng bộ Thủ đô Kháng chiến Tuỵ Quang lần thứ II, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 117.

(12) Cơ sở vật chất: Ban Tuyên giáo Trung ương – Tỉnh ủy Tuỵ Quang, Đại hội Đảng bộ Thủ đô Kháng chiến Tuỵ Quang lần thứ II, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 117.

(13) Mang theo: Ban Tuyên huấn Trung ương – Tỉnh ủy Tuỵ Quang, Đại hội Đảng bộ Thủ đô Kháng chiến lần thứ II Tuỵ Quang, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 117.

(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, số 12, tr 156

(15) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, Đ7, tr 41.

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, số 12, tr 174.

Theo dõi https://hochiminh.vn/

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>