Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học trung đại

Đánh giá của bạn post

Văn học trung đại ra đời vào thời kì nào?

Văn học trung đại gồm những thành phần chính nào?

Hai thành phần chính của văn học trung đại là:

Văn học Hán xuất hiện sau văn học ngủ yên. True hay Flase?

Văn học ru ngủ xuất hiện vào thế kỉ nào?

Các kiểu đọc thuộc lòng, thơ và nói là điển hình của:

Văn học trung đại Việt Nam đã phát triển qua mấy giai đoạn?

Nội dung chính của văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV là:

Nội dung chính của văn học giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII là:

Nội dung chính của văn học cuối thế kỉ XIX:

Tác phẩm Trần Quốc Tuấn, Những vị tướng thuộc thời kỳ nào của văn học?

Văn học chữ quốc ngữ xuất hiện vào thời kì nào?

Về nội dung, văn học trung đại có những đặc điểm gì?

Nội dung nào sau đây là đặc trưng của nội dung văn học trung đại?

Nội dung nào sau đây không phải là biểu hiện của lòng yêu nước:

Nguồn cảm hứng ngoại hình dễ thấy nhất của giống chó nào?

Về nghệ thuật, văn học trung đại có nhiều nét đặc sắc:

Các yếu tố quy phạm trong văn học trung đại là gì?

Trong xu hướng sành điệu, hình tượng nghệ thuật hướng đến vẻ đẹp nào?

Văn học trung đại đã tiếp thu cơ bản những tinh hoa của nền văn học nào?

Văn học dân gian Việt Nam đã tồn tại và phát triển hơn mười thế kỷ, nhưng nó chưa bao giờ tách rời cảm hứng dân tộc; Nguồn cảm hứng của con người và trần thế. Nó được chia thành các thời kỳ: + thời kỳ văn học Lý – Trần (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV) + thời kỳ văn học thời Lê (thế kỷ 15) + thời kỳ văn học thế kỷ XVI đến nửa đầu của văn học. thế kỉ XVIII từ nửa sau thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX + Thời kì văn học nửa sau thế kỉ XIX (Văn học dân tộc chống Pháp)

Văn hóa Đại Việt Văn học Đại Việt hình thành từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên và từ những thành tựu văn hóa và thực tiễn hàng nghìn năm chống giặc ngoại xâm của phương Bắc. Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới phải liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Đầu thời Lỗ, thời Lý chống lại nhà Tống. Nhà Trần vs Nguyên Mông. Nhà Lỗ sau này đã chiến đấu chống lại quân xâm lược nhà Minh. Quang Trọng chống quân xâm lược Thanh. Các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc diễn ra trong lịch sử lâu dài để bảo vệ nền độc lập, thống nhất của quê hương không chỉ thu được lòng dũng cảm của dân tộc mà còn nâng cao lòng tự hào, niềm tin và sự hào hùng của dân tộc. Văn học: lòng yêu nước. Đặc điểm lịch sử đó nói lên phương hướng phát triển của văn học cần luôn trăn trở, ngợi ca ý chí kiên cường, khát vọng chiến đấu và chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần trách nhiệm của con người. Những tấm gương dân tộc, những anh hùng dân tộc đã hy sinh vì nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rất rõ mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc. Quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, củng cố và phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Vì vậy, chế độ phong kiến ​​có thể hưng thịnh hoặc suy tàn, nhưng ý thức dân tộc và nội dung dân tộc trong văn học vẫn không ngừng phát triển. Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như: – lòng yêu nước – lòng căm thù giặc – ý thức trách nhiệm – tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì nước cha – ý chí chiến đấu và chiến thắng – ủng hộ sự nghiệp của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến.

Xem thêm  Đối tượng nào sau đây được ghi nhận là quan hệ kinh tế pháp lý ngoài tài sản của đơn vị

Văn học là do con người tạo ra và một lần nữa phải phục vụ con người. Vì vậy, tinh thần nhân văn là phẩm chất cần thiết để một tác phẩm trở thành bất tử cho nhân loại. Điều này cũng có nghĩa là trong chiều hướng phát triển chung của văn học nhân loại, văn hoá Việt Nam vẫn hướng tới thể hiện những vấn đề của nhân loại như: – khát vọng hoà bình – ý thức vươn lên của con người, nhưng trước hết là đối với các tầng lớp thấp trong các giai cấp – xã hội chia rẽ – đấu tranh vì hạnh phúc, vì quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến. Ca ngợi vẻ đẹp của người cần cù lao động. Lên án mạnh mẽ và chống các thế lực vô nhân đạo.

Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian. Trong hoàn cảnh đặc biệt của văn học dân gian Việt Nam, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do những nguyên nhân sau: + Sau khi nước nhà độc lập, nhu cầu chính mà nhà nước phong kiến ​​Việt Nam cần đặc biệt quan tâm là xây dựng một nền văn hoá thấm nhuần có bản sắc yêu nước, chống lại âm mưu bành trướng, đồng hóa của kẻ thù phương Bắc, củng cố lòng tự hào dân tộc. + Tác phẩm viết bằng chữ Hán thời kỳ này thường dễ bị cô lập với công chúng, tác phẩm ít phổ biến. Do đó, càng về sau, nhu cầu phổ biến và quốc hữu hóa doanh nghiệp ngày càng mạnh mẽ. Trong quá trình giải quyết vấn đề này, văn học dân gian là nhân tố tích cực nhất. Quá trình kế thừa và khai thác văn học dân gian là quá trình làm chủ dần những yếu tố lặp đi lặp lại của văn học dân gian bắt đầu từ thơ văn của Nguyễn Trí sau này (thời Lé Trần, nguồn gốc văn học dân gian chưa được xác định chính xác). + Văn học viết được tiếp thu từ văn học dân gian, chủ yếu về đề tài, chất liệu thơ, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mĩ, phương diện ngôn ngữ và thể loại. + Trong quá trình phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng và ảnh hưởng, bổ sung cho nhau để cùng phát triển (ảnh hưởng của văn học viết đối với văn học dân gian.

– Sự ra đời của các lý thuyết ở Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau: + Vấn đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là vấn đề mang tính quy luật. Từ xa xưa, nước ta và các vùng phụ cận đã có sự giao lưu văn hóa, nhưng chỉ ở quy mô nhỏ, đặc biệt là từ Trung Quốc. + Hơn 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta không tránh khỏi tác động của sự bành trướng văn hoá và đặc biệt là âm mưu đồng hoá của kẻ thù. Bọn quan lại phương Bắc sang đô hộ và cướp bóc Việt Nam không chỉ bóc lột, cướp bóc tài nguyên mà còn truyền bá những học thuyết triết học có nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam một cách khôn khéo và xảo quyệt. + Khi nhà nước phong kiến ​​Việt Nam bắt đầu hình thành, giai cấp thống trị không có hình mẫu nào khác ngoài nhà nước PK Trung Quốc đã tồn tại cách đây hàng nghìn năm và có nhiều kinh nghiệm trong việc tận dụng các học thuyết triết học giáo dục như một công cụ hữu hiệu trong việc thống nhất ngai vàng. và cai trị nhân dân. Học thuyết Nho – Phật – Lào có những điểm tích cực nên các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời trung đại đã quan tâm khai thác, chắt lọc, vận dụng sao cho phát huy hiệu quả những nét tích cực đó. Trong hoàn cảnh đặc biệt của từng thời kỳ lịch sử.

Xem thêm  Tính diện tích hình vuông có cạnh là 6 cm

Từ khi được các văn nhân mạnh dạn xếp vào các tác phẩm văn học, chữ Nôm ngày càng nhấn mạnh vị trí của mình bên cạnh chữ Hán, có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học thời Lí Trần. Sự phát triển của văn học chữ Nôm nhấn mạnh sự lớn mạnh của ý thức dân tộc, thể hiện niềm tự hào, ý thức bảo vệ ngôn ngữ và văn hóa dân tộc trước âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Thời Lý, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tạo văn học không phổ biến.

Từ thế kỉ XV trở đi, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa chữ Nôm vào các sáng tác văn học. Thơ ông tuy chưa được trau chuốt nhưng đậm đà bản sắc dân tộc. Thành công của Nguyễn Khay là tiền đề cho quỹ đạo tiến hóa của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao thành Troy.

Vào thời Trung cổ, văn học chính luận chủ yếu là công cụ của nhà nước phong kiến. Mặt khác, đặc thù của tư duy nghệ thuật và sự bắt chước trong sáng tác dẫn đến việc các tác phẩm văn xuôi tượng hình chỉ thể hiện một số lượng khiêm tốn các tác phẩm thơ. Thể thơ phổ biến nhất trong văn học dân gian là thơ Đường luật. Đây là kết quả của một quá trình giao lưu văn hóa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển. Thời kỳ này, thơ Đường luật được chính thức hóa thành văn học bác học và văn học cử nhân. Vì vậy, tính chất văn chương của thơ Đường luật trong bất kỳ tập thơ trung đại nào cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Đường luật như một thể thơ chính thống trong thi cử và trong sáng tác đã gây nhiều trở ngại về nội dung thể hiện vì nó bị điều chỉnh bởi luật thơ chặt chẽ. Dưới thời Nguyễn Trãi, thơ Đường đã được chuyển thể thành thơ bảy tiếng đầy sáng tạo, độc đáo, phóng khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách nói và tâm lý của dân tộc nên được một số nhà thơ đời sau áp dụng. Sử (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Để mô tả nó, người ta nói rằng phải có những mô hình mà trong nhiều năm đã được coi là đương nhiên. Quan điểm truyền thống không chú ý đến lôgic của cuộc sống, đến mối liên hệ thực tế của hình ảnh với bản chất và hình thức điển hình. Vì vậy, khi phân tích hình ảnh truyền thống, chúng ta không cần đặt câu hỏi xem chúng hợp lý hay phi logic, đúng hay sai, mà chỉ cần xem xét sức mạnh nam tính của hình ảnh. suy nghĩ của nhà thơ có xúc động hay không.

Văn học trung đại Việt Nam chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi trong suốt nhiều thiên niên kỷ phát triển, văn học trung đại phản ánh nhà nước Việt Nam, con người Việt Nam, đồng thời ý thức về quê hương đất nước của con người Việt Nam. Nền văn học này ra đời từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc, đồng thời là sức mạnh để tham gia cuộc đấu tranh này. Từ văn học trung đại những truyền thống lớn của văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rõ nét đến trào lưu văn học hiện đại.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>