Nghị quyết số 11 về công tác phụ nữ

Đánh giá của bạn post

Nghị quyết 11-NQ / TW của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được thông qua ngày 27 tháng 4 năm 2007. Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ. để chị em tham gia ngày càng tích cực hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của gia đình. Gia đình, xã hội, nhà nước và bình đẳng giới.

Nhận thức được tầm quan trọng quyết định đối với công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, trên cơ sở Chương trình công tác số 22-CTr / TU của Ban Chấp hành Đảng bộ Vùng (Khóa XIII) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Chương trình làm việc số 88 / Ban Thường vụ Hội LHPN tỉnh Ngày 28/8/2007 của Trung ương Hội LHPN Việt Nam thực hiện Nghị quyết 11, Ban Thường vụ Hội LHPN tỉnh đã chủ động xây dựng Kế hoạch số 39 / KH-HPN để tổ chức thực hiện. . Quán triệt, nghiên cứu, học tập chương trình công tác của Đảng ủy Vùng và Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị.

Được sự quan tâm của các cấp ủy đảng và sự tham mưu tích cực của các cấp hội đối với công tác phụ nữ và hoạt động của hội trong tình hình mới, các cấp hội đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết 11, kế hoạch hành động của Hội phụ nữ. cấp ủy tỉnh và Hội Liên hiệp tối cao có 100% cán bộ và 80,5% cấp ủy viên, trên 70% là nữ. Qua học tập, tìm hiểu, cán bộ, hội viên, phụ nữ của quận đã làm quen sâu sắc với nội dung quyết định và các chương trình công tác thực hiện quyết định của Tỉnh ủy và Trung ương Đoàn, từ đó có bước chuyển biến mạnh mẽ. trong nhận thức, suy nghĩ và hành động.

Kết quả, sau 10 năm triển khai, các sở, ban, ngành đã phối hợp tổ chức hơn 210 lớp tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức và thành viên Ban VSTBPN các cấp với sự đóng góp của hơn 20.000 người tham gia. Nâng cao nhận thức của xã hội về công tác phụ nữ và bình đẳng giới.

Bên cạnh đó, các cấp hội phụ nữ trong tỉnh tích cực hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực, học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, rèn luyện phẩm chất “Tự trọng, trung hậu, đảm đang”, gắn với “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới… đã đón trên 45.043 lượt, trên 1.878, 057 lượt tham dự và phát trên 163.258 ảnh, sách lật, tài liệu quảng cáo, có 97,86% cán bộ, hội viên, phụ nữ đăng, phát các nội dung trên.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục tiêu bình đẳng giới, Liên đoàn đã tham mưu, đề xuất với cấp ủy khu vực về công tác quy hoạch cán bộ nữ, Tỉnh ủy đã chỉ đạo sự điều hành của Trưởng ban Nội chính, với ban tổ chức khu ủy, đảng ủy các cấp, các tổ chức đoàn thể, Ban VSTBPN thực hiện nhiều biện pháp nâng tỷ lệ nữ là nữ. Tỷ lệ nữ tham gia các ngành, các cấp, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo cụ thể quy trình, quy hoạch cán bộ nữ, nhờ đó, tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo hành chính có sự chuyển biến tích cực. Bên cạnh việc xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ nữ, các cấp Hội luôn coi trọng việc giới thiệu cán bộ, hội viên, quần chúng nữ ưu tú để phát triển. Hội luôn quan tâm đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ hội các cấp, nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chức danh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay.

Kết quả 10 năm qua, đã mở được 913 chi hội với 27.301 vai cán bộ đoàn được đào tạo về nghiệp vụ công tác đoàn, kỹ năng lãnh đạo, nghiệp vụ và hơn 100 cán bộ chủ chốt của hội được cử đi học đại học, đại học chính trị. học thuyết. Đến nay, toàn tỉnh có 100% cán bộ hội cấp tỉnh, cấp huyện và 63/64 chi hội trưởng cơ sở đạt tiêu chuẩn cán bộ, công chức theo quy định, chiếm 98,43%.

Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy và hội đồng nhân dân các cấp tăng theo từng thời kỳ cụ thể:

Đảng viên nữ các cấp: giai đoạn 2005 – 2010 chiếm 9,98%; Trong giai đoạn 2010-2015, chiếm 15,89%; Trong giai đoạn 2015-2020, tỷ lệ này chiếm 20,44%.

– Sự tham gia của phụ nữ vào hội đồng nhân dân các cấp: giai đoạn 2004-2011 là 16,54%; Giai đoạn 2011 – 2016 chiếm 23,18%; Trong giai đoạn 2016-2021, nó chiếm 24,17%.

Bên cạnh đó, các cấp hội luôn quan tâm đến công tác phát triển đảng viên. Hàng năm, Hiệp hội đề ra mục tiêu phấn đấu, trình các hội viên ưu tú của Hiệp hội trình các cấp ủy Đảng xem xét, công nhận. Đến nay toàn hội đã kết nạp được 7.137 / 24.374 đảng viên.

Xem thêm  Cách gỡ sticker trên ảnh

Các cấp Hội luôn chú trọng sáng tạo nội dung, phong cách làm việc phong phú, đa dạng, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ nên đã thu hút đông đảo hội viên tham gia. Văn phòng bang hội. Điều này nâng tổng số cán bộ công nhân viên và hội viên 6 tháng đầu năm 2017 lên 101.583 người (tăng 1,08% so với cùng kỳ năm 2016).

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay vẫn còn một số cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành chưa hiểu hết ý nghĩa, tầm quan trọng của quyết định, chưa xác định rõ trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. quyết định. . Hiện nay. Từ xưa đến nay, mọi nơi vẫn coi đây là quyết định của Hội Phụ nữ. Hội LHPN chưa quan tâm phát huy tinh thần tự lực tự cường, chưa tham mưu, đề xuất có hiệu quả, còn ỷ lại vào sự lãnh đạo của Đảng và sự tạo điều kiện của chính quyền. Số ít cán bộ nữ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quan trọng của mình đối với xã hội, còn tâm lý tự ti, an phận, thiếu ý chí phấn đấu, rèn luyện. Mặt khác, định kiến ​​giới vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, nhiều chị em còn phải chịu áp lực gánh nặng gia đình, thiên chức làm mẹ, làm vợ, hoàn cảnh sống đã hạn chế rất nhiều sự tiến bộ của họ.

Để nâng cao hơn nữa vai trò của các tầng lớp phụ nữ quận trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tin rằng trong thời gian tới, các cấp hội phụ nữ cần tiếp tục thực hiện tốt các ý kiến, mục tiêu đề ra. , các nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 11, cụ thể:

Thứ nhất, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động nữ và bình đẳng giới; Nhận thức của toàn xã hội về công tác phụ nữ và bình đẳng giới.

Thứ hai, tuyên truyền về chuẩn mực phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhận thức về bình đẳng giới, xây dựng gia đình 4 chuẩn mực “giàu có, bình đẳng, tiến bộ, no ấm”. Hạnh phúc luôn gìn giữ và nâng cao giá trị văn hóa của gia đình Việt Nam.

Thứ ba, tổ chức nhất thể hóa toàn bộ tổ chức bộ máy của công đoàn phụ nữ các cấp, nâng cao chất lượng đội ngũ, tiếp tục thực hiện khẩu hiệu hướng hoạt động về cơ sở, khu dân cư.

Thứ tư, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các ngành đoàn thể bảo trợ giáo dục, phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ, tổ chức cho quần chúng phụ nữ tham gia các phong trào hành động cách mạng góp phần vào sự phát triển tốt đẹp của xã hội. Thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội cho khu vực.

Thứ năm: Giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án liên quan đến bình đẳng giới và tìm giải pháp phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển.

Thứ sáu, tham mưu cho tỉnh ủy về công tác quy hoạch cán bộ nữ. Tỉnh ủy đề nghị chỉ đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan quy hoạch đào tạo cán bộ nữ, góp phần tăng cường năng lực lãnh đạo hành chính của phụ nữ, lồng ghép các cơ chế, chính sách. Sổ cụ thể về độ tuổi quy hoạch cử đi đào tạo đối với nữ cán bộ, viên chức.

Việc công khai quyết định đã được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, hội phụ nữ và các cơ sở, nội dung được truyền tải qua các phương tiện truyền thông và tại các cuộc họp, các buổi tập huấn, tập huấn, được phổ biến sâu rộng đến các tổ chức đảng và đảng viên.

Hội LHPN các cấp coi việc triển khai, học tập, thực hiện các quyết định của các cấp là một trong những nhiệm vụ chính và là chỉ tiêu đánh giá hàng năm của tổ chức hội.

Qua thực hiện Nghị quyết 11, các cấp ủy đảng, công đoàn phụ nữ trong quận đã coi trọng và có trách nhiệm với công tác cán bộ phụ nữ. Số lượng cán bộ nữ được quy hoạch ở các cấp đều cao hơn cấp ủy hiện nay. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, phát triển Đảng viên nữ được chú trọng hơn. Sau hơn hai năm triển khai, đến nay, gần 80% cán bộ đoàn các cấp và 75% hội viên phụ nữ hiểu đầy đủ nội dung của quyết định.

Khu ủy cũng quan tâm chỉ đạo tổ chức rà soát, bổ sung, sửa đổi quy hoạch cán bộ lãnh đạo theo Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 47 của Ban Tổ chức Trung ương về quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ được đưa vào quy hoạch cấp ủy đạt các chức danh lãnh đạo các cấp, giai đoạn 2010-2015 từ 15% trở lên.

Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ người dân tộc thiểu số; Xây dựng đề án đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, trong đó có cán bộ nữ.

Xem thêm  Đây gồm các trường hợp đều là chất

Tỷ lệ cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng hàng năm được tăng lương;Tỷ lệ cán bộ nữ được đào tạo đại học và trên đại học ngày càng tăng, trình độ, năng lực được nâng lên rõ rệt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong công việc.

Tỉnh đã mở các lớp đào tạo tại chức đạt chuẩn theo quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho cán bộ trong diện quy hoạch, tạo điều kiện cho cán bộ nữ đi học. Hầu hết cán bộ nữ được quy hoạch đều được đào tạo cơ bản để đạt tiêu chuẩn, chức danh quy hoạch. Từ năm 2003 đến đầu năm 2009, Tỉnh ủy Sơn La đã mở 6 lớp đại học chuyên ngành cho cán bộ dân lập và cấp dưỡng xã, phường, thị trấn với tổng số 646 học viên, trong đó học viên nữ chiếm gần 20%; Từ năm 2007 đến nay, đào tạo cao cấp lý luận chính trị với tổng số 167 đồng chí nữ, trong đó 59 đồng chí nữ, tỷ lệ 35,36%.

Công tác phát triển đảng viên nữ được quan tâm hơn, tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hàng năm tăng lên rõ rệt. Năm 2007, toàn tỉnh kết nạp được 3.353 đảng viên, trong đó nữ là 1.139 đảng viên, chiếm 33,9%; Năm 2008, toàn tỉnh kết nạp 2.736 đảng viên, trong đó có 974 đảng viên nữ, chiếm 35,6%.

Cấp quận có 44 đồng chí lãnh đạo, phó chủ tịch và tương đương, trong đó có 10 đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ quận khóa XII (hai đồng chí tham gia cấp ủy khu vực, một đồng chí là phó trưởng ban dân vận tỉnh ủy). ủy ban). 1 đ / c là đại biểu Quốc hội khu vực, 1 đ / c là đại biểu Quốc hội). Cấp quận và thành phố có 3 đ / c là bí thư quận ủy, 2 đ / c phó bí thư quận ủy, 1 đ / c chủ tịch UBND quận, 7 đ / c phó trưởng phòng. của ủy ban nhân dân địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh những phát hiện sơ bộ rất quan trọng này, vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục. các chi tiết: Việc triển khai các quyết định xuống cơ sở còn chậm. Nội dung chương trình công tác của một số đơn vị, cơ sở chưa cụ thể hóa điều kiện, tình hình từng vùng, thiếu giải pháp vững chắc, chưa có lộ trình thực hiện mục tiêu đề ra đến năm 2020. Nhận thức về cán bộ, đảng viên, phụ nữ về nội dung quyết nghị chưa sâu. Công tác phát triển đảng viên nữ ở vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, do chưa có chuẩn mực văn hóa.

Công tác tham mưu của Hội LHPN Khu ủy, Hội LHPN các cấp còn hạn chế, chưa sâu sát, nhất là trong việc đề xuất, kiến ​​nghị với cấp ủy về công tác cán bộ nữ, công tác cải tiến, tuyển sinh của nhà trường. tổ chức đảng, bố trí cán bộ nữ, luân chuyển chức vụ, tham gia giữ chức vụ lãnh đạo; Đặc biệt, việc tham mưu đưa cán bộ nữ vào quy hoạch cấp ủy nhiệm kỳ 2010-2015 và tham mưu thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 11-NQ / TW của Bộ Chính trị còn nhiều băn khoăn.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do một số cấp ủy, cơ quan, ban, ngành, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ nữ. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ nữ còn tâm lý tự ti, an phận, ngại học, không muốn tham gia các chức vụ lãnh đạo, quản lý. Trong nội bộ, phụ nữ không hỗ trợ nhau. Các cấp hội phụ nữ chưa phát huy hết vai trò, chức năng trong việc tham mưu, thực hiện công tác cán bộ. Trong khi đó, Sun được đánh giá là một quận nghèo, nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo cán bộ nữ còn thiếu.

Trong thời gian này, cấp ủy, chính quyền và công đoàn phụ nữ các cấp trong tỉnh tập trung đẩy mạnh Thực hiện 5 nội dung trong Chương trình hành động của tỉnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ / TW của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, liên quan đến việc thực hiện các chương trình trọng điểm của tỉnh như: Chương trình di dân và tái định cư Chương trình thủy điện Sơn La, chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy; chương trình phát triển cây cao su

Hoạt động của công đoàn phụ nữ các cấp được chú trọng hướng về cơ sở, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, phát huy và nâng cao cơ hội, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ mọi mặt cho hội viên. Tăng cường hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, góp phần thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và nhân dân.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>