Nền văn hóa Đồng Nai được phát hiện và phân bố ở các tỉnh não sau đây

Đánh giá của bạn post

.

Cập nhật lúc: 20:33, 08/10/2021 (GMT + 7)


Sự phân chia giữa các đơn vị hành chính thuộc thể chế cai trị nhưng sông không thuộc, sông chỉ chảy theo dòng chảy từ nguồn xuống biển.

Nen van hoa dong nai duoc phat hien va phan bo o cac tinh nao sau day
Đoạn sông Đồng Nai chảy qua cầu Hóa An (TP.Biên Hòa)

Nối với sông ở vỉa hè, bãi bồi hay núi cao, con người dựa vào địa hình đó để sinh tồn bằng nhiều cách như lập làng dân cư, săn bắn, hái lượm, làm ruộng, săn bắn, và thực hành tôn giáo với lãnh vực tâm linh của mình.

Người già bên bờ sông …

Dấu tích của người cổ đại có niên đại nhiều thế kỷ trước Công nguyên dọc theo bờ sông vẫn còn rất nhiều, ẩn hiện đâu đó trong các lớp đất mà các khảo cổ học chỉ là một trong số ít phản ánh sự hiện diện của người xưa. Các nhà địa chất và khảo cổ học người Pháp Việt đã phát hiện và khai quật các di chỉ, nhà xưởng, … của người xưa trên lưu vực sông Đồng Nai. Trong đó, có các đại danh như Suối Linh, Hòn Rùa, Bến Đò, Mỹ Lộc, Dốc Chùa, An Sơn, Rạch Núi, Phước Tân, Bình Đa, Gò Me, Cái Vạn, Rạch Lá, Rạch Lăng …

Nhiều hiện vật được sưu tầm từ đồ đá, gốm sứ, xương, sừng, đồng … phản ánh sự đa dạng về công cụ, vũ khí và đồ trang sức của người xưa. Họ xuất hiện và định cư ở các vùng đồi núi ven sông, nơi cửa sông “nối liền thủy” với săn bắt, hái lượm, canh tác, đánh bắt thủy sản… trong suốt một thời kỳ lịch sử.

Dấu vết người cổ sinh sống ven sông rất nhiều và được biết đến ở nhiều vùng miền Đông Nam Bộ qua các cuộc khai quật khảo cổ học, tóm tắt những nét khái quát về văn hóa của cư dân nguyên thủy. Những gì còn lại của người xưa là những bộ sưu tập trong các viện bảo tàng địa phương và được giấu ở đâu đó mà vẫn chưa được tìm thấy.

Di tích độc đáo trên Cù lao Rùa giữa sông Đồng Nai (nay thuộc xã Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Trên đảo Rùa, từ thế kỷ 19, các nhà địa chất Pháp đã phát hiện ra một số dấu tích của người xưa. Sau năm 1975, qua các đợt thám sát, đặc biệt là khai quật khảo cổ học đã thu được hàng nghìn hiện vật thuộc các loại hình cư trú và mộ táng của con người thời tiền sử với niên đại: thời kỳ: đầu thời kỳ 3500 đến 3000 và cuối năm 3000 đến 2700 năm trước. Di tích khảo cổ học Đảo Rùa đã được ghi vào Danh sách Di tích Quốc gia năm 2009.

Sông Đồng Nai là điều kiện thuận lợi để cư dân xưa tạo dựng nguồn sống. Đặc biệt, tại một làng cổ ven sông có tên Bình Đa (nay thuộc phường An Bình, TP.Biên Hòa), cuộc khai quật năm 1979 đã khai quật được một nhóm thanh trầm bằng đá có niên đại hơn 3000-2700 năm. Nhiều di chỉ khảo cổ học khác ven sông cũng đã tìm thấy những phế tích tiêu biểu với những hiện vật độc đáo… Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến việc người cổ đại ven sông Đồng Nai sử dụng công cụ bằng đá. Chắc chắn rằng người xưa đã làm việc chăm chỉ, vất vả giữa muôn vàn khó khăn để đảm bảo sự sống còn của họ, và trong cuộc sống đó họ cũng đã hiện thực hóa âm nhạc qua những thanh đá được làm từ thời xa xưa. Hoa hồng dại nguyên thủy.

Cách đây hơn 3000 năm, để tạo nên những thanh đàn đá vang đúng điệu nhạc, những người thợ thủ công với bàn tay khéo léo, tỉ mỉ về cảm âm chắc chắn đã phải trải qua nhiều nghiên cứu và thử nghiệm. Chúng ta có thể hình dung một cộng đồng dân cư dọc theo bờ sông Đồng Nai, sau khi gieo trồng mùa màng, cùng nhau chia sẻ niềm vui trong những dịp lễ hội với điệu múa, âm thanh của dàn nhạc rock vang lên dưới ánh lửa nhấp nháy. Đó là môi trường xã hội được nâng cao của các dân tộc cổ đại, phản ánh sự nhạy cảm tinh tế về văn hóa và nghệ thuật.

Bí mật của ngôi đền

Sông Đồng Nai ở khu vực giáp ranh giữa Lâm Đồng – Sông Đồng Nai có bản chất là đồi núi, có nhiều đỉnh núi nên từ trên cao nhìn xuống, dòng sông như một con rắn trắng cuộn mình giữa một màu xanh thẫm. Những ngọn đồi của khu rừng ven sông này – nay thuộc phạm vi của Rừng Quốc gia Cát Tiên – để lại những di chỉ khảo cổ quan trọng của những người sống cách đây hàng nghìn năm. Nhiều di tích đền thờ về người được xây dựng dưới chân núi, ven sườn đồi, giữa đường hoặc trên đỉnh núi đã được phát hiện qua các đợt khảo sát, khai quật khảo cổ học như Rạch Đông, Rạch Cây. Gáo, Miếu Ông Chơn, Nam Cát. Tiên, Đà Lắc … (Đồng Nai), đặc biệt là cư dân di tích Cát Tiên ở huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, phía tả ngạn sông Đồng Nai.

Xem thêm  Đâu là thiết bị vào của máy tính
Nen van hoa dong nai duoc phat hien va phan bo o cac tinh nao sau day
Du khách tham quan Linga-Yoni lớn nhất Đông Nam Á tại di chỉ khảo cổ học Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: TL

Tôi đã đến con đường mòn này hai lần trong những ngày khai quật và nhiều lần dẫn học sinh đi thực tế và thực địa. Quần thể chùa chiền với kiến ​​trúc được khai quật trải dài trên một diện tích khá rộng. Trên đỉnh đồi cao là tàn tích của một ngôi đền tháp với bàn thờ Linga-Yoni lớn bằng đá (biểu tượng của sức sống) trong tín ngưỡng Bàlamôn được cho là chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cổ đại. Nhóm tượng này với kích thước lớn và trọng lượng ước tính khoảng 4 tấn, được xác định là lớn nhất trong số Linga-Yoni được phát hiện ở Đông Nam Á. Bên dưới những ngọn đồi bằng phẳng hoặc thấp là kiến ​​trúc gạch đá hỗn hợp của hệ thống đền tháp cao sừng sững. Trong những ngôi chùa này có nhiều hiện vật bằng đá, đồng, gốm sứ, thủy tinh, vàng, bạc, v.v. Các miếng vàng mỏng khắc hình hoa lá, tượng động vật, tượng tâm linh, thần thánh, tượng linga – yoni từ nhiều chất liệu (đá, vàng, đồng, thủy tinh) …

Nhiều người sẽ thắc mắc, tại sao giữa bạt ngàn núi non cách đây hơn chục thế kỷ, cư dân đã xây dựng đền tháp, làm sao họ có thể di chuyển đến và đặt những bệ đá lớn, số lượng gạch lớn lên đỉnh núi .. .Nhiều kiến ​​giải nhưng đều khâm phục sức mạnh đoàn kết, tài năng và niềm tin Sức mạnh của người xưa. Từ trên đỉnh núi nhìn về hướng sông Đồng Nai uốn lượn quanh các thung lũng, chắc chắn từ đây con sông này là huyết mạch, là con đường thu hút cư dân đến ở, vận chuyển vật liệu, chọn nơi xây dựng ngôi chùa linh thiêng ở Cát Thiên. Thánh địa.

Di tích Cát Tiên có thể coi là trung tâm và xung quanh nó có thể tìm thấy một hệ thống đền chùa khác ẩn mình trong thăng trầm của thời gian, bị thời gian, môi trường che lấp … cho đến khi được con người phát hiện. Dọc sông Đồng Nai là vùng phụ cận của Cát Tiên với nhiều đền tháp từng đến khai quật tại Đà Lắc, hữu ngạn Đồng Nai gần đó cũng như một số di chỉ khác qua các tài liệu.

Núi, đồi, đồi dọc theo sông Đồng Nai chảy vào bờ thác Trị An cổ kính với nhiều dấu tích của ngôi chùa. Một số đã khai quật, sưu tầm được nhiều hiện vật trong các cơ quan nghiên cứu, nhiều hiện vật quý hiếm góp phần làm sáng tỏ các di tích văn hóa cổ. Dưới đáy hồ Trị An, một số di chỉ được khai quật ở vùng Cái Gáo trước khi bị nước lớn nhấn chìm sau khi hoàn thành đập, công trình thủy điện lớn nhất miền Nam được xây dựng vào những năm 1980 …

Ghi chú Vân Đình Đông

Bài 4: Các nhóm xuống dòng

Nen van hoa dong nai duoc phat hien va phan bo o cac tinh nao sau day

Bộ sưu tập hiện vật bằng vàng thuộc nền văn hóa Óc Eo được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Long An. (Ảnh: Bùi Giáng / TTXVN)

Là tên một ngọn đồi ở cánh đồng phía đông nam núi Bà, thuộc xã Phong – huyện Thái Sơn – tỉnh An Giang, Ô Si Iu đã đi vào lịch sử khảo cổ học Việt Nam như một vùng đất văn hóa khảo cổ tuyệt vời.

Nền văn hóa Óc Eo được hình thành và phát triển từ thế kỷ 1 sau Công nguyên đến thế kỷ 7 sau Công nguyên.

Đây là một nền văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với đất nước – con người vùng đồng bằng – hạ lưu sông Cửu Long; Đồng thời gắn liền với lịch sử cổ đại của Đông Nam Á.

Khu vực này phân bố trên một diện tích rất rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng trũng phía Tây sông Hậu, bao gồm nhiều vùng sinh thái khác nhau thuộc các tỉnh An Giang (Auk Io Ba Tha), Kin Giang (Đá Nổi, Chùa Tháp., Tân Long), Đồng Tháp (Đồng Tháp Mười), vùng ven biển Tây Nam Bộ (U Minh, Năm Căn) đến ven biển Rừng Sác (Cần Giờ, Giồng Am …) và ra biển Đông (khu vực từ cửa of the Tien River to Ka Mau).

Ngoài ra, khảo cổ học đã phát hiện nhiều di vật, di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo trên địa bàn các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và một phần Long An, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xem thêm  Mùng 2 9 nên đi đâu ở hà nội

[Thu được 20.000 mẫu di vật của nền Văn hóa Óc Eo tại An Giang]

Nen van hoa dong nai duoc phat hien va phan bo o cac tinh nao sau day

Một miếng vàng trong bộ có một dòng chữ bằng tiếng Phạn cổ. (Ảnh: Bùi Giáng / TTXVN)

Từ đầu thế kỷ 20, những hiện vật đầu tiên của nền văn hóa Óc Eo đã được phát hiện tại cánh đồng Óc Eo-Bà thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Do sự phong phú về thể loại, tính độc đáo của chất liệu và vẻ đẹp đặc sắc của nghệ thuật, từ thời đó, những dấu vết của nền văn hóa Óc Eo đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nổi tiếng người Pháp như G.Coedès và L. Malleret, đ . Parmenter …

Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn hóa này chỉ thực sự bắt đầu từ những cuộc khai quật do L.Malleret thực hiện tại Đài tưởng niệm Óc Eo vào năm 1944 và những năm sau đó. L.Maleret đã công bố kết quả khám phá và nghiên cứu của mình trong bộ sách “Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long”, lần lượt được xuất bản từ năm 1959 đến năm 1964.

Công trình này được coi là thành tựu khảo cổ học chính của nền văn hóa Óc Eo cho đến trước năm 1975.

Trên cơ sở khai quật năm 1944, Louis Malleret cho rằng cánh đồng Óc Eo là một thị trấn cổ và đặt tên là Thị trấn Óc Eo hay Thị trấn Óc Eo, diện tích 450 ha, có cảng gọi là Óc Eo. Đó là Tà Keo, cách Óc Eo 12 km về phía Tây Nam.

Khu vực này không chỉ chứa đựng hình ảnh của một đô thị bình thường mà còn lưu giữ nhiều dấu tích của một trung tâm văn hóa – tôn giáo lớn với 3 quần thể kiến ​​trúc: Linh Sơn Tự, Đông Bắc quận Ba, núi Ba Thê. Giồng Cát, Giồng Xoài.

Trong quá trình khảo sát và khai quật, các di chỉ văn hóa Óc Eo đã tìm thấy các tượng lớn nhỏ, nhẫn, hoa tai, hạt đá quý, mã não, hạt thủy tinh, ấn, bùa, công cụ bằng đồng, bằng đá; Đồ gốm như đèn quay, bếp, đĩa đèn, nồi, niêu, chum …

Các bộ sưu tập hiện vật ở Óc Eo cho thấy sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa này; Nét nguyên sơ, sự đan xen và đan xen của các nền văn hóa trong vùng cũng như với các vùng khác.

Nen van hoa dong nai duoc phat hien va phan bo o cac tinh nao sau day

Vòng tay vàng của cư dân Óc Eo. (Nguồn: Ảnh báo Việt Nam)

Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở Óc Eo rất mạnh mẽ, thể hiện qua các đề tài trang trí, qua mũ hay dáng ngồi của tượng, qua những con dấu có khắc chữ viết bằng chữ Ấn Độ …

Nguồn gốc của nền văn hóa này được thể hiện qua đồ gốm, nồi nấu kim loại, khuôn đúc và các công cụ đúc.

Nguồn gốc văn hóa Óc Eo bắt nguồn từ văn hóa Đồng Nai. Mối liên hệ giữa văn hóa Đồng Nai-Óc Eo được chứng minh bằng sự hiện diện của văn hóa Óc Eo, hàng loạt hiện vật đã có trong văn hóa Đồng Nai.

Đó là đồ gốm sứ, đồ gia dụng, công cụ thủ công (bàn xoa, bàn dập, bàn mài …); đồ dùng bằng đồng và sắt (lục lạc, rìu, rìu); đồ trang sức (hạt thủy tinh, mã não); Nhà sàn trên cột gỗ …

Văn hóa Óc Eo có sự giao lưu văn hóa sâu rộng với các nền văn minh cổ đại như Văn minh Đông Sơn (Phong cách trang trí và tạo tác tương tự Văn minh Đông Sơn); với Ấn Độ (Ấn Độ giáo, tượng Phật, đồ trang sức, hoa văn chạm khắc, con dấu, bia ký…); với thế giới Địa Trung Hải và Trung Đông (huy chương La Mã, hoa văn trang trí, hình chìm, tượng đồng, chuỗi hạt La Mã, chân dung các vị vua Ba Tư …); Và với Trung Quốc (mảnh gương đồng, tượng Phật nhỏ).

Óc Eo là di tích còn sót lại, là trung tâm văn hóa cổ ở Đồng bằng sông Cửu Long, là hình mẫu cho sự kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong phát triển; Một vốn quý và là một mũi nhọn quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề văn hóa, lịch sử của đất nước và khu vực Đông Nam Á.

Vì vậy, cần phải bảo tồn và nâng cao giá trị của di sản văn hóa Óc Eo – một di sản lịch sử văn hóa quan trọng của Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung.

(Vietnam +)

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>