Giải đáp Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN như thế nào

Như thế nào
Đánh giá của bạn post

Quan hệ Việt Nam – ASEAN và các vấn đề tương lai

tác giả: Nguyễn Phương Bình.

28 năm sau ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1967-1995), và 20 năm sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc (1975-1995), Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành thành viên ASEAN chính thức thứ bảy của Việt Nam. . Ngoài năm thành viên sáng lập của ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, thành viên thứ sáu của tổ chức là Brunei được chấp nhận ngay sau khi nước này độc lập khỏi Anh (năm 1984). Tất nhiên, Việt Nam và Brunei là hai quốc gia hoàn toàn khác nhau về diện tích, dân số, văn hóa, tôn giáo, hệ thống kinh tế chính trị… Nhưng quãng thời gian dài nói trên cũng cho thấy một số khó khăn. Những khó khăn, thăng trầm trong mối quan hệ giữa hai bên để họ có thể gặp gỡ và làm việc vì một tương lai tốt đẹp hơn cho đại gia đình Đông Nam Á.

Tuy nhiên, ngay cả sau khi Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN (tháng 7/1995), vẫn còn những câu hỏi đặt ra từ bên ngoài như: Tại sao Việt Nam lại có động thái nhanh chóng về ASEAN, và sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước. Thay đổi để phục vụ cho ý đồ chiến lược của Việt Nam chống lại một bên nào đó?

Mỗi người có thể tự mình tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi trên thông qua việc tìm hiểu quá trình phát triển quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN.

Vào những năm 1960, khi cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam lên đến đỉnh điểm và với sự tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) của một số nước ASEAN, hai bên hầu như không có quan hệ gì với nhau (trừ mối quan hệ giữa hai nước) . Hai nước) .Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và In-đô-nê-xi-a.

Trong những năm 1970, quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN được thiết lập và từng bước phát triển với thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt qua chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam đến các nước ASEAN. Việt Nam Văn Đông năm 1978, sau khi Việt Nam thống nhất và trở thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hai bên đã thảo luận về các vấn đề hợp tác kinh tế và an ninh chính trị, như khả năng ký kết hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Tuy nhiên, những sự kiện sau đó liên quan đến Campuchia đã khiến quan hệ giữa hai bên xấu đi, thậm chí là đối đầu trong những năm 1980. Bên cạnh nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được cải thiện trở lại và khả năng Việt Nam gia nhập khu vực. Tổ chức Hợp tác Đông Nam Á này đã được đề cập từ năm 1989 tại cuộc họp không chính thức thứ hai về vấn đề này, Campuchia ở Jakarta (JIM 2). Ba năm sau, Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN (7/1992), và 3 năm sau trở thành thành viên chính thức của ASEAN (7/1995).

Bên cạnh những thay đổi sâu sắc đã xảy ra trên thế giới và trong khu vực kể từ năm 1989, nhận thức về lợi ích chung của Đông Nam Á và sự phụ thuộc lẫn nhau của sự phát triển đã dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn giữa Việt Nam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á về tình hình. Lợi ích an ninh nhằm thúc đẩy sự chia sẻ vận mệnh chung của các dân tộc Đông Nam Á.

Đường lối Đổi mới do Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đề ra và được Đại hội VII (1991) và Đại hội VIII (1996) tiếp tục phát triển đã thúc đẩy đổi mới kinh tế theo định hướng thị trường để phát triển quốc gia. hội nhập với khu vực và thế giới, nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh do pháp luật quản lý.

Quan điểm mới về phát triển kinh tế – xã hội: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, sống theo pháp luật”, chính sách đối ngoại “bạn với tất cả” thể hiện một quan niệm mới về an ninh ở Việt Nam, là những nhân tố tích cực cho thấy thúc đẩy hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới. Như vậy, quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN đã bước sang một trang mới.

Bên cạnh những thắc mắc từ bên ngoài ASEAN, ngay cả trong một số nước ASEAN cũng có ý kiến ​​lo ngại về khả năng có sự tham gia của Việt Nam – một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn nhiều so với các nước ASEAN có hệ thống phát triển kinh tế thấp. Sự khác biệt về chính trị và kinh tế Việc tham gia hợp tác ASEAN, những khác biệt cố hữu ở Việt Nam và tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc có thể làm phức tạp thêm quan hệ ASEAN-Trung Quốc.

Xem thêm  Giải đáp Học sinh đánh nhau xử phạt như thế nào

Đã hai năm trôi qua kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN, sự phát triển của nền kinh tế đất nước và quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9% của Việt Nam vẫn đang tiếp diễn và có thể sẽ tiếp tục trong vài năm tới, với lạm phát được kiềm chế và sản lượng công nghiệp tăng bình quân 14-15%. Dòng vốn đầu tư từ các nước ASEAN tiếp tục tăng và thương mại giữa Việt Nam và ASEAN đã vượt con số hai năm trước. Đầu năm 1996, Việt Nam công bố 857 mặt hàng được cắt giảm thuế 5-0% khi gia nhập khu vực mậu dịch tự do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AFTA), và đang từng bước thực hiện quá trình gia nhập khu vực mậu dịch tự do. Với 60% sản phẩm đã có thuế suất từ ​​5% trở xuống, Việt Nam, theo Tổng thư ký ASEAN Ajit Singh, sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các yêu cầu của FTA về giảm thuế. Bên cạnh những nỗ lực cụ thể để tham gia Khu hợp tác kinh tế và thương mại tự do ASEAN, Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động hợp tác khác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị cấp cao A. – Châu Âu … Một số nhà lãnh đạo các nước ASEAN, trong đó có Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Ali Alatas, đã đánh giá thành công của Việt Nam trong việc gia nhập ASEAN là vượt quá mong đợi.

Trong hai năm qua, quan hệ ASEAN – Trung Quốc và Việt Nam – Trung Quốc ngày càng được củng cố và phát triển. Mặc dù các tranh chấp, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp ở Trường Sa và Biển Đông đôi khi phủ bóng đen lên các mối quan hệ này, nhưng sự cải thiện quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc vẫn được thể hiện rõ nét trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc. Trung Quốc trở thành đối tác đối thoại chính thức của ASEAN từ năm 1996, thông qua Đối thoại Chính trị và An ninh hàng năm, Trung Quốc ngày càng đi vào thảo luận về các vấn đề thiết thực liên quan đến lợi ích hợp tác của hai bên như các vấn đề liên quan đến tranh chấp ở Trường Sa. và Biển Đông mà phía Trung Quốc không có. Muốn đưa vào chương trình nghị sự tại Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc sắp tới … Trong khi đó, quan hệ song phương về kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa … của Trung Quốc với Việt Nam và các nước ASEAN ngày càng được củng cố và phát triển.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là việc Việt Nam tham gia hợp tác ASEAN về mọi mặt diễn ra suôn sẻ, Việt Nam không gặp nhiều khó khăn, thách thức. Bên cạnh những kết quả tốt đẹp của hai năm tham gia hợp tác ASEAN, vẫn còn một số tồn tại, một số vấn đề mới đang nảy sinh sẽ tiếp tục thách thức sự tham gia và hội nhập của Việt Nam trong ASEAN.

Về kinh tế, việc thực thi Hiệp định Thương mại Tự do Ả Rập (AFTA) vốn không dễ dàng giữa các thành viên cũ của ASEAN, sẽ càng khó khăn hơn đối với các thành viên mới, trong đó có Việt Nam. Một cuộc họp của các bộ trưởng thương mại ASEAN tại Singapore vào tháng 4 năm 1996 đã đạt được sự nhất trí chung rằng hầu hết hàng hóa của khu vực sẽ có mức thuế từ 0 đến 5% vào thời điểm FTA hoàn thành, và điều này “khoan dung hơn” đối với một số sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm. chẳng hạn như gạo, có thể được Kéo dài thời hạn thực hiện cắt giảm thuế đến năm 2010. Nhưng không phải tất cả các nước thành viên đều sẵn sàng chấp nhận thời hạn này. Sau đó Indonesia, với sự hỗ trợ của Philippines, đề xuất kéo dài thời hạn đối với nông sản đến năm 2020. ASEAN đã phải tiến hành đàm phán, thương lượng nhiều vòng để đạt được sự đồng thuận nội bộ, và cuối cùng cả hai nước (Indonesia và Philippines) đã đồng ý trở về. đến thời hạn ban đầu năm 2010 với điều kiện là có sự linh hoạt trong việc ban hành biểu thuế cuối cùng (2). Nó cũng cho thấy giữa các nước ASEAN vẫn còn nhiều ý kiến ​​khác nhau về mốc thời gian thực hiện Hiệp định Thương mại Tự do Ả Rập. Một số nước muốn đẩy nhanh tiến độ thực thi FTA vào năm 2000 thay vì 2003, trong khi một số nước lại chần chừ giữ một số mặt hàng … chứ chưa nói đến việc rút ngắn thời hạn thực tế. Và trong quá trình thực thi FTA, việc thực hiện đúng quy trình là một thách thức đối với Việt Nam, bởi trong quá trình thực thi FTA, Việt Nam cũng bộc lộ một số hạn chế. Đánh giá về tiến độ thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Mỹ Latinh (AFTA), ông Trần Xuân Tăng, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết: “Về quy định và thực thi pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam. Có thể nói, hợp tác chưa triển khai, hiệu quả, còn thụ động, thích ứng … Từ trước đến nay, các cơ quan, ngành cấp Bộ mới chỉ tham gia vào các lĩnh vực liên quan đến FTA, còn các doanh nghiệp thì hầu hết vẫn ở bên lề. ” Ngoài ra, “để thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan của Việt Nam bắt đầu từ năm 1998, thời gian còn lại để các công ty Việt Nam đổi mới công nghệ và từng bước thích ứng với môi trường cạnh tranh… là rất ngắn” (3).

Xem thêm  Giải đáp Nền kinh tế phát triển Và Sụp Đổ Như thế Nào PDF

Cơ hội để Việt Nam mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, đồng thời cũng là thách thức mới đối với Việt Nam, trong chiến lược phát triển ASEAN “Tầm nhìn ASEAN 2020”, điểm quan trọng là mục tiêu hướng tới mở rộng Khu vực mậu dịch tự do của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hoặc ASEAN. Khu kinh tế (AER), nơi thuế và các biện pháp bảo hộ khác sẽ được bãi bỏ hoàn toàn sau năm 2003.

Sau hai năm trực tiếp tham gia các hoạt động hợp tác khác nhau của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và dần quen biết nhau dưới hình thức hợp tác. trong ASEAN. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân sự và nguồn lực nói chung vẫn cần nhiều nỗ lực để có thể đáp ứng được những bước tiếp theo khó khăn và phức tạp hơn trong hợp tác ASEAN.

Về an ninh khu vực, ASEAN, được biết đến với các nguyên tắc hoạt động, đã trở thành biểu tượng của tổ chức như nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và bình đẳng … Với ASEAN-10 và những diễn biến gần đây ở Campuchia , những nguyên tắc này dường như đang bị thách thức. Với 10 nước thành viên hoàn toàn khác nhau về diện tích, dân số, trình độ phát triển, thể chế chính trị, tôn giáo… Sự đa dạng của ASEAN về kinh tế chính trị, văn hóa, lợi ích an ninh… Từ ASEAN như: phức tạp nhất để đạt được đồng thuận ASEAN về các vấn đề kinh tế và an ninh, hài hòa lợi ích quốc gia, lợi ích chung của khu vực, thời hạn thực hiện FTA khác nhau, khả năng tham gia các hoạt động chung của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á … cũng là điều mà Việt Nam thể hiện, cần quan tâm đến việc xử lý các vấn đề trong khuôn khổ ASEAN trong tương lai.

Sau sự kiện diễn ra vào tháng 7 vừa qua tại Campuchia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được cho là đang được thử nghiệm nhiều nhất. Ngoài việc theo dõi và chờ đợi phản ứng của ASEAN từ bên ngoài, trong nội bộ ASEAN cũng đã mở ra các cuộc thảo luận. Khá nhiều quan chức và học giả ASEAN đã đặt vấn đề rằng ASEAN nên có “chính sách can thiệp mang tính xây dựng” hoặc “can thiệp với các đặc điểm của ASEAN, kiểu ASEAN” ở Campuchia, và đây là điều cần phải làm. Bởi vì những gì đang diễn ra hôm nay ở Campuchia có thể xảy ra trong tương lai ở một nước thành viên ASEAN khác hoặc nước láng giềng của nó. Tuy nhiên, dù là “can thiệp mang tính xây dựng” hay “can thiệp kiểu ASEAN, mang đặc trưng của ASEAN” thì không thể tránh khỏi hai chữ “can thiệp” hay “tham gia”. Câu hỏi đặt ra ở đây là ASEAN sẽ tiếp cận và định vị các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, đối với các nguyên tắc làm việc của ASEAN như thế nào trong tương lai? Có phải ASEAN đang chuyển mình để có những bước đi quyết định và có tổ chức hơn và đóng một vai trò lớn hơn?

Tóm lại, có thể nói với ASEAN-10, ASEAN sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới. Chuyển đổi mới luôn đi kèm với những thay đổi, trăn trở để tự hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của tình hình toàn cầu, khu vực, vị thế mới và vai trò của ASEAN ở khu vực và trên thế giới. Điều này chỉ có thể đạt được khi có sự đóng góp và hợp tác của các Quốc gia Thành viên. Giải quyết tốt các vấn đề trong mối quan hệ với ASEAN, Việt Nam làm cho việc tham gia vào ASEAN ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn, đạt được mục tiêu lâu dài là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người giới thiệu:

1. Bangkok Post ngày 22 tháng 8 năm 1996, trang 2 FBIS-EAS, ngày 22 tháng 8 năm 1996, trang 78;

2. Mainichi Daily News, ngày 13 tháng 9 năm 1996;

3. Nguyễn Hữu Dật, “AFTA và tác động của nó đối với nền kinh tế Việt Nam,” Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, N – 224, 1/1997, tr.76./

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.