Giải đáp Tại sao nói Luật Hiến pháp là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Đánh giá của bạn post

Một số nhận định đúng và sai về luật hiến pháp

Câu hỏi thứ nhất: Luật hiến pháp là một ngành luật độc lập vì các quy định của Hiến pháp là cơ sở để ban hành các đạo luật khác.

Ý kiến ​​trên là sai, bởi vì luật hiến pháp là một ngành luật độc lập vì nó có mục đích tổ chức và phương pháp sửa đổi nó, chứ không phải vì các quy định của nó là cơ sở để ban hành các luật khác.

Câu hỏi 2. Hiến pháp hiện hành có quy định chính phủ trợ cấp học phí và viện phí không?

Nhận định sai, hiến pháp không còn ủng hộ mà chỉ thực hiện một số chế độ miễn giảm.

Câu hỏi thứ ba: Hiến pháp hiện hành có quy định nhà nước hỗ trợ việc làm và nhà ở không?

Sai quy định, hiến pháp không hỗ trợ nữa mà chỉ áp dụng một số hệ thống hỗ trợ, tạo điều kiện cho công dân có được nhà ở.

Câu 4: Các bản Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam nêu Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến?

Ý kiến ​​trên là sai, vì chỉ có hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) mới quy định điều này.

Câu hỏi thứ năm: Theo quy định của pháp luật hiện hành, người ứng cử đại biểu Quốc hội có quyền vận động, vận động không?

Nhận định sai vì người ứng cử chỉ có quyền công khai (Quyết định 52 Luật bầu cử).

Câu 6: Theo quy định của Hiến pháp. Cử tri không được thực hiện quyền bầu cử tại nơi tạm trú.

Nhận định sai, vì theo Điều 22 Luật bầu cử, cử tri có quyền bầu cử tại nơi tạm trú của mình.

Câu 7: Theo quy định của pháp luật hiện hành, mọi khiếu nại trong hoạt động bầu cử do cơ quan hành chính nào giải quyết?

Nhận định sai vì theo Điều 78 Luật bầu cử thì “mọi khiếu nại phải gửi đến Hội đồng bầu cử, Hội đồng bầu cử có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại”.

Câu 8: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong lần bầu cử đầu tiên nếu thiếu số lượng người trúng cử so với danh sách thì được bầu bổ sung.?

Tuyên bố hợp lệ theo quy định tại Điều 71 Luật bầu cử.

Câu 9: Theo quy định của pháp luật hiện hành, Quốc hội chỉ thực hiện quyền giám sát cao nhất đối với cơ quan nhà nước ở trung ương?

Phán quyết là sai vì theo Điều 83 của Hiến pháp thì “Quốc hội kiểm soát tối cao toàn bộ công việc của bộ máy nhà nước”.

Câu 10 .. Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có đại biểu quốc hội mới có quyền trình Quốc hội dự thảo luật?

Nhận định sai vì có nhiều cá nhân, cơ quan có thể trình Quốc hội dự án luật (ví dụ: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, An toàn nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các tổ chức thành viên của VNV, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội)

Câu 11: Hiến pháp là thiết chế dân chủ trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước

Phán quyết đúng đắn vì luật hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, nó điều chỉnh những vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của xã hội về mặt cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị .. nó là một thiết chế dân sự. Của mình trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.

Câu 12: Nguồn của luật hiến pháp chỉ là hiến pháp năm 2013

Hiểu sai vì nguồn của luật hiến pháp bao gồm: Hiến pháp hiện hành, Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân …

Hệ thống chính trị là hệ thống các nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước. Hệ thống chính trị là cấu thành của hiến pháp, là tổng thể các hệ thống liên quan đến những vấn đề chung có tính nguyên tắc làm cơ sở cho các chương sau của hiến pháp như: bản chất của nhà nước, nguồn gốc của nhà nước, sự lãnh đạo. . Đảng cộng sản về hoạt động của nhà nước và xã hội, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Nội dung cơ bản của hệ thống chính trị bao gồm:

1. Nhấn mạnh bản chất của nhà nước ta là nhà nước vì dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, cơ sở là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Xem thêm  Giải đáp Tại sao cậu lại thích tớ đam mỹ

2. Xác định rõ mục tiêu của nhà nước là: Nhà nước bảo đảm và không ngừng củng cố quyền chủ quyền về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của quê hương, của nhân dân. Dân giàu nước mạnh; thực hiện công bằng xã hội; Mọi người đều được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

3- Nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, người đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc, cụ thể như sau: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng chủ yếu của nhà nước và xã hội. Tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Điều 4).

4. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đơn nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ chủng tộc (Điều 5).

5. Quy định nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và đại biểu Quốc hội là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. (Điều 6)

6. Xác định nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 7).

7. Quy chế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên (Liên đoàn Phụ nữ Việt Nam, Liên đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, …) chính sách của chính quyền nhân dân.

8. Sự khẳng định đường lối đối ngoại của nước ta là hữu nghị và mở rộng giao lưu, hợp tác với mọi nơi trên thế giới.

9. Khẳng định các quyền dân tộc cơ bản: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, quần đảo và vùng trời (Điều 1). Đây là quyền riêng là cơ sở của các quyền khác.

Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã nhấn mạnh tính phổ biến của nhà nước ta, quy định nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản – chính đảng duy nhất lãnh đạo. Nhấn mạnh nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước ta là nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quy định phương hướng phát triển của nhà nước ta.

Trong quá trình tồn tại và phát triển, các quan hệ kinh tế luôn chịu sự chi phối thích ứng từ nhà nước theo những phương hướng nhất định. Các quan hệ kinh tế về bản chất là cơ sở kinh tế của nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy định của luật hiến pháp và tập hợp lại để tạo thành hệ thống kinh tế. Trong hệ thống kinh tế của nhà nước, những vấn đề cơ bản làm cơ sở xác định hệ thống xã hội bao gồm chính sách phát triển kinh tế, quan hệ tài sản, quan hệ sản xuất, quan hệ phát triển kinh tế và quan hệ xã hội. Quản lý nền kinh tế quốc dân … Trong mối quan hệ này, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở xác định bản chất của hệ thống kinh tế.

Trước đây, nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, mang nặng tính hành chính. Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi. Điều 20 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách, xác định trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp; bảo đảm đạt được kết quả phù hợp với lợi ích của cá nhân, nhóm và nhà nước. ” Quản lý kinh tế bằng pháp luật là một nguyên tắc quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Pháp luật, với những đặc điểm của nó, xác định các quan hệ phức tạp và cơ bản của hệ thống kinh tế như quan hệ tài sản, quan hệ thừa kế, quan hệ lao động, phân phối sản phẩm xã hội, …, quan hệ với các nhà nước và tổ chức quốc tế … Theo luật, Nhà nước xác định chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế, quy hoạch và cơ cấu nền kinh tế quốc dân, bảo đảm hoạt động, thực hiện cơ chế hành chính để chỉ đạo, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, hệ thống pháp luật kinh tế của nước ta còn chưa hoàn thiện để thích ứng một cách toàn diện và hiệu quả với các quan hệ kinh tế đa dạng, vì vậy cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện.

Xem thêm  Giải đáp Vì sao không nên vừa ăn vừa xem tivi

Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới, theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Môi trường, Luật Đầu tư nước ngoài … Đồng thời, toà án kinh tế và các toà án khác được thành lập.

Xuất phát từ bản chất của nhà nước, các chính sách và biện pháp phát triển kinh tế của nhà nước ta đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân. Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể mà nhà nước đề ra những mục tiêu cụ thể cho chính sách kinh tế. Mục tiêu của chính sách kinh tế ở Việt Nam hiện nay là “làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân (Điều 16 Hiến pháp năm 1992).

Sở hữu là một thành phần thiết yếu của hệ thống kinh tế của nhà nước. Hiến pháp của tất cả các nước trên thế giới đều quy định về chế độ tài sản. Theo Hiến pháp năm 1992 của nước ta, có các hình thức sở hữu chủ yếu sau: Sở hữu nhà nước (hay sở hữu toàn dân) bao gồm tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nền kinh tế. Nhà nước là chủ thể sở hữu công, nhà nước giao tài sản thuộc sở hữu của mọi người cho cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân chủ yếu thể hiện ở các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Công dân là những cá nhân mang quốc tịch của một quốc gia. Là công dân của nước sở tại, cá nhân được hưởng đầy đủ các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật nước sở tại.

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được nhà nước quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ này cho mọi công dân, cho cả một giai cấp, tầng lớp, nhưng không quy định cho mọi người trong mọi hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Thông thường, những quyền này bắt nguồn từ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm hoặc tước đoạt được. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân, là cơ sở cho mọi quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi công dân, thể hiện trình độ, mức sống và nền tảng văn minh của nhà nước.

Được chia thành các khu vực sau

Quyền trong lĩnh vực chính trị:

+ Quyền bầu cử (18 tuổi), quyền ứng cử (21 tuổi) vào Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

+ Quyền tham gia quản lý của nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tiến hành trưng cầu ý dân.

Quyền trong lĩnh vực kinh tế:

+ Quyền tự do hành động.

+ Quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

– tự do cá nhân:

+ Tự do đi lại và ăn ở.

+ Bất khả xâm phạm về tính mạng, tài sản và nhà ở.

+ Quyền được bảo mật thư tín, điện thoại, điện tín.

+ Quyền biểu tình, quyền tự do lập hội.

+ Quyền tự do ngôn luận.

Quyền trong lĩnh vực văn hóa – xã hội:

+ Tự do sáng tạo, nghiên cứu văn học, nghệ thuật.

+ Quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ.

Bên cạnh quyền, luôn có nghĩa vụ được quy định tại Điều 51 Hiến pháp năm 1992: “Quyền dân sự không tách rời nghĩa vụ dân sự. Nhà nước bảo đảm quyền của công dân, công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội.

Cụ thể: Công dân phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

Công dân có nghĩa vụ nộp thuế …

Bảo vệ Tổ quốc.

Khi công dân không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ của mình để làm những việc trái pháp luật thì sẽ bị áp dụng các hình phạt cần thiết.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Tại sao

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>