Tai sao cac nuoc khong tu in tien a05db0d268e9e733d8004595fd4d3313

Giải đáp Tại sao các nước không tự in tiền

Tại sao
Đánh giá của bạn post

Thoạt nghe đây có vẻ là một ý tưởng hợp lý, nhưng theo các nhà kinh tế, đó thực sự là một lựa chọn có thể dẫn đến những hậu quả tai hại.

Theo lý thuyết tiền tệ hiện đại (còn được gọi tắt là MMT), các chính sách tiền tệ mở rộng, hay nói cách khác là tiền do ngân hàng trung ương tạo ra, được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu của chính phủ. Theo những người ủng hộ lý thuyết MMT, một quốc gia phát hành tiền tệ của riêng mình không bao giờ có thể hết tiền và không bao giờ có thể vỡ nợ về loại tiền này. Họ có thể thực hiện tất cả các khoản thanh toán khi đến hạn và không chịu rủi ro vỡ nợ.

Tại sao các nước không tự in tiền?

Chính phủ đã phải vay nước ngoài để đối phó với tình hình kinh tế bất ổn. (Nguồn: The Conversation)

Học thuyết hiện đại nhưng không nhất quán

Tuy nhiên, các chuyên gia tài chính ngân hàng đánh giá lý thuyết này là một ý tưởng kinh tế sai lầm. Ngay cả những nhà kinh tế học nổi tiếng như Paul Krugman, người từng đoạt giải Nobel kinh tế và chuyên mục kinh tế của New York Times, và Giáo sư Greg Mankiw (Đại học Harvard) cũng phản đối kịch liệt ý kiến ​​này.

Khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thuế thu được, chính phủ phải vay tiền từ nước ngoài (được gọi là tài trợ thâm hụt), và sau đó chỉ thị cho kho bạc phát hành chứng khoán nợ. Nợ thường được nắm giữ bởi các ngân hàng tư nhân, các tổ chức đầu tư và các nguồn tài trợ khác trong xã hội. Khi chính phủ cố gắng tránh vỡ nợ, khoản vay bên ngoài có thể được coi là một bảo đảm tạm thời.

Tuy nhiên, những trái phiếu này thường có thể được phát hành với lãi suất thấp hơn trái phiếu của các tổ chức tài chính khác. Có ba loại trái phiếu chính: Kho bạc ngắn hạn, Kho bạc trung hạn và Kho bạc dài hạn. Trái phiếu kho bạc ngắn hạn có thời gian đáo hạn ngắn nhất (dưới một năm) trong khi trái phiếu kho bạc có thời gian đáo hạn từ 10 năm trở lên.

Nợ sẽ đi đâu khi bạn in thêm tiền?

Để giúp chính phủ giải quyết các khoản nợ, Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) đã thực hiện “nới lỏng định lượng” bằng cách mua trái phiếu chính phủ. Để làm được điều này, Ngân hàng Dự trữ New Zealand bắt đầu in tiền để thanh toán trái phiếu, và số tiền này sau đó được lưu thông trên thị trường, làm tăng lượng tiền cung ứng.

Tại sao các nước không tự in tiền?

Nhiều tiền hơn dẫn đến nguy cơ lạm phát và khủng hoảng niềm tin tài chính. (Nguồn: The Conversation)

Nới lỏng định lượng làm tràn ngập hệ thống tiền tệ với tính thanh khoản, tức là các tài sản hoặc sản phẩm có thể chuyển đổi thành tiền mặt hoặc sẵn sàng để đầu tư và chi tiêu. Ngược lại, biện pháp này sẽ làm giảm áp lực lãi suất vì vay tiền sẽ rẻ hơn khi thị trường có nhiều tiền hơn.

Ngoài ra, Ngân hàng Dự trữ New Zealand cũng có thể áp dụng giảm lãi suất cơ bản (OCR) để hạ lãi suất ngân hàng bán lẻ đối với các khoản thế chấp và tiền gửi tiết kiệm. Mục tiêu trong cả hai trường hợp là làm cho việc vay tiền trở nên rẻ hơn với hy vọng rằng các công ty sẽ đổ xô đi vay tiền để đầu tư, do đó tạo ra nhiều việc làm hơn.

Nếu Ngân hàng Dự trữ New Zealand mua trái phiếu chính phủ từ các ngân hàng bán lẻ và các nhà đầu tư đã mua chúng, điều này có nghĩa là các chủ nợ đã được “thanh toán”.

Trên thực tế, các khoản nợ không biến mất, chúng ở dạng tiền lưu thông bổ sung trong nền kinh tế. Đến một lúc nào đó, số tiền thừa này sẽ được gửi vào các ngân hàng thương mại và được giữ như một khoản dự trữ để thu lãi từ Ngân hàng Dự trữ New Zealand.

Xem thêm  Giải đáp Vì sao nên cho trẻ em học tiếng anh sớm

Đồng tiền đang lưu hành thực sự là một “đấu thầu hợp pháp” được hỗ trợ bởi chính phủ. Nếu không muốn giữ, chủ sở hữu số tiền có thể bán lại cho Ngân hàng Dự trữ New Zealand để lấy một thứ có giá trị tương đương, chẳng hạn như ngoại tệ.

Rủi ro lạm phát và khủng hoảng niềm tin

Trong khi đó, nếu lãi suất giảm không dẫn đến mở rộng kinh doanh và thúc đẩy sản xuất, thì kết quả là có nhiều tiền luân chuyển hơn trong nền kinh tế mà không có sản xuất mới nào xuất hiện.

Điều này sẽ gây áp lực lên lạm phát, khiến người gửi tiết kiệm cảm thấy bất bình và làm giảm nhu cầu gửi tiết kiệm của các ngân hàng nói chung. Bởi lẽ, việc gửi tiết kiệm của các hộ gia đình vào ngân hàng thực chất là một hình thức huy động vốn của các công ty.

Trong trường hợp không tăng sản lượng, số tiền tăng thêm này sẽ được chuyển đến các tài sản tài chính phi sản xuất như cổ phiếu và nhà cửa, tạo ra bong bóng đầu cơ trên các thị trường đó.

Trong thời kỳ suy thoái kinh tế sâu sắc, không phải là việc thiếu tín dụng đã kìm hãm các công ty mà chính là việc họ không có khả năng bán hàng hóa của mình với giá hiện tại. Điều này làm giảm cầu lao động, giảm cầu hàng hóa do nhiều người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu do thất nghiệp.

Tuy nhiên, cho vay của chính phủ là một cuộc chơi dài. Bất kể tài trợ thâm hụt hoặc các biện pháp in tiền được thực hiện, tất cả các khoản vay đều dựa trên niềm tin rằng chính phủ sẽ tôn trọng các khoản nợ mà họ đang cho vay.

Không chính phủ nào có thể làm hài lòng tất cả các chủ nợ nếu họ muốn lấy lại tiền ngay lập tức. Miễn là chính phủ tiếp tục trả lãi cho các khoản vay, hoặc ít nhất là có thể trả hết một số chủ nợ này (đôi khi bằng cách vay nhiều hơn), nền kinh tế sẽ ổn định.

Nếu niềm tin vào chính phủ bị mất vì bất kỳ lý do gì do bất kỳ dấu hiệu nào về việc vỡ nợ hoặc không tuân thủ các nghĩa vụ nợ, điều đó sẽ dẫn đến tổn hại vĩnh viễn đến uy tín của chính phủ và khả năng vay nợ của chính phủ trong tương lai. Vì không ai muốn nắm giữ nợ chính phủ dưới hình thức trái phiếu chính phủ.

Khi điều đó xảy ra, sẽ có một dòng vốn chảy ra khỏi đất nước khi mọi người đổ xô đi kiếm lợi ở nơi khác. Phá giá tiền tệ sẽ có những tác động tai hại đến nền kinh tế, chẳng hạn như những tác động đã trải qua trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.

Tại sao các nước không tự in tiền?


Khi các cuộc ép tiền leo thang, giá cả còn tăng nhanh hơn, cho đến khi các quốc gia này trải qua một thứ gọi là “siêu lạm phát‘, đó là khi giá cả tăng lên rất nhiều trong một năm.

Khi Zimbabwe bị lạm phát phi mã, năm 2008, giá cả đã tăng 231.000.000% trong một năm. Hãy tưởng tượng một thanh kẹo 1 đô la ở Zimbabwe trước khi lạm phát có giá 231 triệu đô la một năm sau đó. Tại thời điểm này, số lượng giấy in trên số tiền này có thể có giá trị hơn số lượng ghi trên đó.

Xem thêm  Giải đáp Tại sao mật ong bị kết tinh

Có thể in thêm tiền để giàu hơn, nhưng …

Để giàu lên, nhà nước phải sản xuất và bán nhiều thứ hơn, cho dù đó là hàng hóa hay dịch vụ. Bây giờ có thể an toàn khi in thêm tiền, vì mọi người có thể dùng số tiền này để mua nhiều hàng hóa hơn. Nếu một quốc gia in nhiều tiền hơn mà không tăng sản lượng, giá cả sẽ tăng.

Ví dụ, một phiên bản đặc biệt của Chiến tranh giữa các vì sao được tạo ra vào năm 1970 và không còn ai làm trò chơi này nữa. Vì vậy, nhiều tiền hơn không có nghĩa là nhiều người có thể mua nó. Người bán sẽ tiếp tục tăng giá.

Tại sao các nước không tự in tiền?


Hiện tại, chỉ có một quốc gia có thể giàu lên bằng cách in nhiều tiền hơn, đó là Mỹ (mặc dù bây giờ nước này đã giàu rồi). Đó là bởi vì những thứ đắt nhất mà các nước trên thế giới mua bán với nhau, bao gồm vàng và dầu, đều được định giá bằng đô la Mỹ. Vì vậy, nếu Hoa Kỳ muốn mua nhiều hơn, họ thực sự có thể in thêm tiền. Tuy nhiên, nếu in nhiều thì giá đô la hàng hóa sẽ tiếp tục tăng.

Tại sao các nước không tự in tiền?

1) Bạn và 10 người khác bị lạc và bị cuốn trôi đến một hòn đảo hoang ngoài biển, hòn đảo chỉ là một bãi cát. Thức ăn và nước uống không có sẵn. Lúc này bạn muốn chuyền dưa hấu hay chuyền đô la => Chính phủ nên in tiền vào thời điểm này?

Trong trường hợp có đủ diện tích dưa hấu trên hòn đảo này để 11 người này (cùng bạn bè) sinh sống cho đến khi tìm thấy sự thoải mái. Gần đó có 3 người cũng mắc kẹt trên một hòn đảo chỉ có túi tiền, họ mang tiền đến mua dưa hấu của bạn, bạn bán dưa hấu lấy tiền?

Như vậy, khi của cải không tạo ra giá trị gì thì dù có in bao nhiêu tiền cũng không có giá trị.

2) Trong quan hệ tài chính quốc tế:

Nhìn sang hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ, tỷ giá hiện tại là 20.000 đồng / USD. Hãy nói rằng Việt Nam in nhiều tiền hơn, tất cả những thứ khác đều bình đẳng. Điều này khiến hàng Việt Nam rất đắt hàng. Người Việt Nam có nhiều tiền VND sẽ thấy có lợi khi mua hàng ở Mỹ vì chúng tương đối rẻ hơn (trước đây họ mua 1 chiếc bánh mì = 1 đô la thì bây giờ vẫn thế), nhưng để mua hàng Mỹ họ phải đổi VND => cầu tăng $, có nghĩa là $ sẽ tăng giá. Lúc này giá chuyển khoản là 1 $> 20.000đ, có thể là 30.000đ chẳng hạn.

Nhìn chung, người Việt Nam không thấy có lợi gì khi phát hành thêm tiền.

Tóm tắt: Hãy tưởng tượng, mỗi ngày nền kinh tế chỉ sản xuất được một chiếc bánh, trong khi nhà nước in rất nhiều tiền. Điều này khiến chiếc bánh trở nên đắt đỏ, hay nói cách khác, những đồng tiền mới sẽ làm giảm giá trị của những đồng tiền cũ. Bản thân tiền chỉ là một tờ giấy có giá trị chuyển nhượng chứ không có giá trị thực như vàng / bạc hay kim cương nên rất dễ xảy ra tình trạng mất giá nếu ngân hàng trung ương tính toán không tốt. Tóm lại, tăng gấp đôi lượng tiền lưu thông trong khi sức mua không đổi sẽ làm giảm 1/2 giá trị của đồng tiền. Mọi người sẽ mất niềm tin vào tiền bạc.

Ngày nay, với sự phát triển của thương mại quốc tế và tài chính quốc tế, việc phát hành tiền ít nhiều phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế của một quốc gia và cách chính phủ của quốc gia đó kiểm soát nền kinh tế.

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.