Kinh do cua trieu nguyen o dau

Giải đáp Kinh đô của triều nguyễn ở đâu

Ở đâu
Đánh giá của bạn post

Các giai đoạn lịch sử


Triều Nguyễn (1802-1858)

  • Huế – 5 Điểm đến Di sản

Khi Giả Long lên ngôi, mở ra triều Nguyễn, Huế trở thành trung tâm chính trị của một quốc gia với lãnh thổ thống nhất và rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Tại kinh đô Huế, vua Gia Long và vua Minh Mạng đã xây dựng một bộ máy chính quyền được tổ chức chặt chẽ, bài bản đủ sức điều hành cả một đất nước rộng lớn từ Lạng Sơn đến đỉnh Ka Mau.

Kinh đô của triều nguyễn ở đâu?

Thừa Thiên Hugh nửa đầu thế kỷ XIX (1802-1858)

Các quy định chính thức tương tự như thời Lư. Dưới thời vua, mọi việc thuộc trách nhiệm của sáu bộ: Bộ Lại, Bộ Gia, Bộ Hình, Bộ Lễ, Bộ Công và Bộ Binh. Ngoài Lục Bộ còn có Sở Sắc Viện. Năm 1834, vua Minh Mạng cho thành lập cơ mật viện để bàn về mật mã quân sự.

Vua Jialong chia lãnh thổ từ bắc xuống nam thành 23 thị trấn và 4 doanh nghiệp chung. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), triều đình chia từ Quảng Trị ra bắc thành 18 tỉnh, năm sau 1832 tiếp tục chia từ Quảng Nam vào nam thành 12 tỉnh. Cả nước lúc bấy giờ có 30 tỉnh và phủ Thừa tuyên. Năm Minh Mạng thứ mười lăm (đầu năm 1835), triều đình thành lập thêm 3 huyện thuộc phủ Thừa Thiên là Phương Điền, Hồng Thủy và Phú Lộc. Như vậy, cho đến thời điểm này, phủ Thừa Thiên bao gồm tất cả 6 tỉnh: Phương Đin, Quảng Điền, Hưng Trà, Phú Vang, Hưng Thủy và Phú Lộc.

Vào thế kỷ 19, Thừa Thiên Huế sáp nhập kinh đô nên triều đình Huế thường quan tâm đến việc an dân, phát triển mọi mặt để tạo chỗ đứng vững chắc cho vương triều, về kinh tế, triều Nguyễn đã có những chính sách ưu đãi. Ưu đãi phát triển nông nghiệp Thừa Thiên, cấm mua bán ruộng đất công, lập kho ở Thông Bình, tổng trấn Điền, tổng Điền Kahn, kho Bình Thiệu, quản trang, Dân Tiến Nông, miễn thuế thất bại từng trồng trọt, lập công trình thủy lợi, đập ngăn mặn, đào kênh, nạo vét các con sông hói. Sông Dương Xuân được khai quật năm 1808, sông An Cựu (Lợi Nông) năm 1814, sông Phổ Lợi năm 1835 … Tuy nhiên, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, trình độ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp còn cao. Không có tiến bộ đáng kể nào được thực hiện và năng suất cây trồng vẫn ở mức thấp.

Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp của Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ 19 phát triển vượt bậc, nhiều làng nghề nổi tiếng: Làng gốm Phước Tích (Phong Điền); làng nón lá Triệu Sơn (Hương Trà); Su Lo Dong (Fo Lok), Fu Kam (Hyo); làng rèn, ủi Phú Bài (Hương Thủy), Hiền Lương (Phong Điền); Đúc đồng ở Dương Xuân; Thêu màu. Mỹ Xuyên mộc, điêu khắc, v.v. Hoạt động thủ công mỹ nghệ có hai bộ phận, ngoài làng nghề dân gian còn có xưởng thủ công do triều đình quản lý. Nghề thủ công góp phần hình thành nên văn hóa Huế, ghi dấu ấn vào kiến ​​trúc vật chất và đời sống tinh thần của người dân. Ngoài thủ công mỹ nghệ, ở Hội An còn có các làng nghề làm muối biển nổi tiếng là Dim Trung và Phương Chính (Phu Lok).

Một bộ phận lớn thợ thủ công được tập hợp lại thành một tổ chức nghề nghiệp gọi là Tương Cư (thời Gia Long gọi là Ty, tức Đội). Số lượng tượng ở thủ đô rất lớn, và tượng có thể được sản xuất độc lập hoặc trở thành một phần của một xưởng sản xuất lớn – khách VIP của triều đình.

Thủ công nghiệp phát triển không chỉ góp phần thoả mãn nhu cầu đời sống vương giả và công việc xây dựng cung đình mà còn tạo ra nguồn hàng hoá thúc đẩy thương mại phát triển. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, một mạng lưới chợ huyện được hình thành quanh Thừa Thiên Huế như Gia Hội, An Vân, Thanh Hà, Kim Long, Nam Phổ, An Cựu, An Nông, Phú Lễ, Đại Lộc. .., các khu chợ là trung tâm giao lưu giữa các địa phương trong vùng và với Thủ đô Hugh. Ngoài chợ huyện còn có hệ thống chợ làng. Đặc biệt, sự phát triển của thương cảng Bao Vinh góp phần quan trọng trong việc thông thương giữa Thừa Thiên Huế với các tỉnh trong và ngoài nước.

Nhìn chung, nghề thủ công và thương mại Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX có bước phát triển vượt bậc so với trước đây. Tuy nhiên, do chính sách dân tộc “cấm đạo một phần” của triều đình nên thủ công nghiệp và thương mại chưa phát huy hết khả năng, còn chịu nhiều hạn chế của chế độ phong kiến ​​và kinh tế nhỏ.

Về giao thông, nhiều cây cầu được xây dựng ở Thừa Thiên Huế dưới triều Nguyễn, cũng như đường thủy qua sông, hồ và dọc biển. Đường bộ có đường chính thức, dọc đường thành lập các trạm dịch: Trạm Thừa Nông, Thừa Hòa, Thừa Lưu, Thừa Phúc ở vùng Phú Lộc; Ga Thuận Lân ở Phú Vang; Thừa Ân và Thừa là điểm dừng chân của tôi ở Phong Điền. Trạm và trạm phiên dịch đóng một vai trò quan trọng trong thông tin liên lạc lúc bấy giờ.

Về văn hóa, những thành tựu văn hóa, giáo dục của đất nước nửa đầu thế kỷ XIX được phản ánh rõ nét nhất trên vùng đất Thừa Thiên Huế.

Thời Nguyễn, hệ thống trường huyện được mở. Quốc Tử Giám cũng được mở ra để đào tạo nhân tài phụng sự đất nước. Bên cạnh hệ thống trường học, khoa thi cũng được quy định, khoa thi Hương được tổ chức từ năm Long Thành thứ 6 (1807) và khoa thi Hội bắt đầu từ năm Minh Mạng thứ 3 (1822). Hội thi Hương ba năm một lần, năm sau tổ chức Hội thi. Trường thi Thừa Thiên được xây dựng vào năm 1825 và là địa điểm tổ chức thi liên tục trong thời nhà Nguyễn.

Thời vua Minh Mạng, năm 1836, ở Kinh thành cũng thành lập một trường chuyên dạy ngoại ngữ, gọi là Tu Dịch Đài, nhằm đào tạo những người thông thạo ngoại ngữ để phục vụ quan hệ với các nước.

Được thành lập vào năm 1820, Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã sưu tầm hàng nghìn cuốn sách cổ của các thời đại trước đó, và xuất bản nhiều tác phẩm lịch sử, địa lý quan trọng như Khâm sai Việt sử Thông giám Cương mục. Và Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện,…

Ca nhạc: Các thể loại lưu hành của Nhã nhạc cung đình bao gồm nhã nhạc, nhạc giao, nhạc chùa, ngũ tự, nhạc triều… Ngoài ra, âm nhạc Huế bao gồm hai dòng chính là ca nhạc dân tộc và ca Huế. Tuồng phát triển mạnh mẽ, bên cạnh khoa tuồng chuyên phục vụ cung đình còn có tuồng dân gian. và Tự Đức, nó là một bộ phận chính của Quần thể Di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bên cạnh đó là các đường nét kiến ​​trúc chùa, đền, đình và kiến ​​trúc nhà tranh.

Tôn giáo: Các vua đầu triều Nguyễn đã nhận thức được vai trò quan trọng của Nho giáo trong việc củng cố chế độ phong kiến ​​trung ương nên rất coi trọng Nho giáo. Đối với Phật giáo, mặc dù có những quy định nghiêm ngặt về việc xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tạc tượng, trồng rau và chùa … “Từ nay về sau, chùa chỉ được trùng tu, chỉ có chùa mới được trùng tu. xây mới, trang trí bằng chuông và đàn rau, đình chùa đều là cung cấm ”(Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, quyển 1, tr. 586), nhưng nhiều vua triều Nguyễn. tổ chức trùng tu các đền, chùa. Ông đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa công cộng (chùa do nhà nước xây dựng) như Thiên Mụ, Giak Huang, Dio Di, Than Duen …. Nhìn chung, các vua nhà Nguyễn không hoàn toàn bác bỏ đạo Phật mà có thái độ dung hòa Phật giáo. Đối với đạo Thiên chúa, nhà Nguyễn áp đặt chính sách hạn chế.

Về đời sống xã hội của nhân dân Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX, tuy vùng đất kinh kỳ có nhiều thuận lợi hơn so với các vùng khác trong cả nước nhưng đời sống của nhân dân còn nghèo nàn, thuế má, chính trị. hai ngàn. Sự phân chia xã hội ngày càng sâu sắc với sự hình thành của giai cấp quý tộc và bình dân. Hơn bất cứ đâu, trên mảnh đất Thừa Thiên Huế, người ta cảm nhận rõ ràng gánh nặng của thứ bậc, trật tự, môn phái phong kiến.

Cố đô Huế thời Nguyễn

Sau khi đánh bại nhà Thái Sơn, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), nhà Nguyễn chọn Anh Phú Xuân làm kinh đô, dựng bàn thờ tế trời đất và lập triều đình lên ngôi, đặt niên hiệu là Long Gia. Năm 1804, vua Gia Long đổi quốc hiệu thành Việt Nam.

Tháng 4 năm Ất Mùi (1805), nhà Nguyễn khởi công xây dựng thành. Hơn 30.000 binh lính và công chức được huy động từ Quảng Bình, Quy Nhơn đến Huế để thi công. Đến năm 1807, 80.000 binh lính khác được cử đến Thanh Ngỗi và Bắc Thành làm việc ngày đêm. Ban đầu, lâu đài được đắp bằng đất, bên ngoài được lợp bằng ván gỗ. Vào năm thứ mười bảy của triều đại Gia Long (1818), hai lô được xây dựng ở mặt phía tây và phía nam. Hai mặt đông và bắc xây bằng gạch vào năm 1822. Năm 1832, thời Minh Mạng, công trình hoàn thành, sau đó được sửa chữa nhiều lần.

Địa điểm Cố đô Huế ban đầu được các hoàng tử nhà Nguyễn chọn làm kinh đô Đàng Trong từ năm 1687 đến năm 1775, sau đó triều Thái Sơn sử dụng làm kinh đô của cả nước từ năm 1788 đến năm 1801. Vua Gia Long đã chọn lại. Đây là địa điểm xây dựng pháo đài với quy mô lớn hơn, tọa lạc trên đất của 8 thôn: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Bửu và An Mỹ.

Lâu đài được xây dựng theo kiểu Vauban, hình gần như vuông, diện tích 520 ha, chu vi hơn 10.500 m. Hệ thống lâu đài (gồm Hoàng thành (Ngoại thành), Cố thành và Tử Cấm Thành (Nội thành) nằm trên một trục, quay mặt về hướng Nam và Đông Nam, được xây dựng trên cơ sở địa hình của núi Ngô và các Sông Hương: Trục chính của hệ thống này đi qua giữa núi Ngô chứng tích.

Hoàng thành là trung tâm hành chính chính trị quan trọng nhất của triều đình, được xây dựng vào năm 1804 và được nâng cấp hoàn thiện vào năm 1833. Hoàng thành có diện tích 36 ha, có hình gần như vuông, mỗi cạnh là khoảng 600 mét. Trong Hoàng thành có hơn 100 công trình kiến ​​trúc tuyệt đẹp được chia thành nhiều khu vực khác nhau, tất cả đều bảo tồn công năng riêng.

Tử Cấm Thành nằm ngay trung tâm Hoàng thành và là khu vực sinh sống của Vua và Hoàng gia. Tử Cấm Thành có hình dạng gần như hình vuông với chu vi 1200 mét. Trong Tử Cấm Thành có hơn 50 công trình kiến ​​trúc lớn nhỏ, trong đó có nhiều cung điện nguy nga, tráng lệ.

Cố đô Huế có giá trị phòng thủ rất lớn. Xung quanh cấu trúc lâu đài có 24 pháo đài, và một pháo đài phụ là Trấn Bình Đài (mang cá nhỏ). Tất cả những điều đó cùng với vòng bảo vệ bên ngoài của Hồ Thanh Hà đã tạo nên một hệ thống phòng thủ mạnh mẽ.

Kiến trúc của Kinh thành Huế là sự hòa quyện trí tuệ chặt chẽ giữa kiến ​​trúc và thiên nhiên. Đây là tri thức và tài năng của dân tộc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.

Địa chí – Lịch sử Thừa Thiên Huế (NXB Khoa học xã hội – 2005)

[Bản in]

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Xem thêm  Giải đáp Bản cát cát ở đâu

Leave a Reply

Your email address will not be published.