Có mấy dạng bài học Tập làm văn

Đánh giá của bạn post

Quên mật khẩu? Hãy điền địa chỉ email của bạn. Bạn sẽ nhận được một liên kết và tạo một mật khẩu mới qua email.

Co may dang bai hoc tap lam van ahr0cdovl2qudmlvbgv0lnzul3vwbg9hzhmvcmvzb3vyy2vzl2rvy3vtzw50lzm2ny9szw5fa2lfbmftz192awv0x3zhbl9tawv1x3rhx29fdglldv9ob2muanbn

(DVNN) 1.Kỹ năng làm bài Tập làm văn rèn luyện cho học sinh cách viết bài theo chủ đề cụ thể và các thể loại, thể loại khác nhau. Tập làm văn là sự kết tinh nhiều mặt của kĩ năng và năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh được rèn luyện qua từng học kì.

Về phân môn Tập làm văn, bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng được hình thành và phát triển từ các phân môn khác như: nghe, nói, đọc, viết (phân môn Tập đọc); Giải thích nghĩa của từ, cách dùng từ, cách đặt câu (chia từ và luyện câu); Nếu em viết đúng chính tả, phát âm đúng (phần chính tả),… thì lớp luyện viết cũng hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng của bản thân. Ngoài những kỹ năng chung cho các kiểu viết do nội dung chương trình xác định, một số kiểu viết với các phong cách khác nhau còn có những kỹ năng đặc thù hơn.

Trong phân môn Tập làm văn, kĩ năng làm văn, văn nghị luận có thể chia thành các nhóm sau:

một.Bộ kỹ năng giúp học sinh tiếp cận và chuẩn bị cho việc tạo lập văn bản bao gồm: kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng tìm kiếm ý tưởng, kỹ năng lựa chọn ý tưởng và kỹ năng xây dựng dàn ý.

B.Tập hợp các kĩ năng làm văn, bao gồm các kĩ năng: dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, liên kết đoạn văn với bài viết. Trong bốn kỹ năng này, kỹ năng viết đoạn văn và kỹ năng liên kết đoạn văn thành một bài văn là kỹ năng phân biệt và chủ yếu của môn Tập làm văn.

c.Bộ kĩ năng kiểm tra kết quả (dùng trong tiết kiểm tra kết quả bài làm của học sinh) bao gồm các kĩ năng: kĩ năng chấm lỗi, lỗi dùng từ, lỗi chính tả, lỗi sắp xếp. Các lỗi câu văn, lỗi nội dung, lỗi cảm xúc… được thể hiện rất rõ trong bài làm của học sinh.

Như vậy, tập làm văn đối với học sinh (lớp 4-5) là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến ​​thức, kĩ năng đã học trong các môn học nói chung. Do đó, từ việc nắm bắt ý tưởng đến việc diễn đạt thành văn bản, từ nói đến viết còn một khoảng cách khá xa. Vì vậy, ngoài việc củng cố tình cảm, tâm hồn văn học, tư tưởng sống cho học sinh thông qua các bài học trong môn Tiếng Việt; Mỗi thầy, cô giáo cũng cần chú trọng rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết văn theo các yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, theo đặc điểm tâm sinh lý và khả năng tư duy của trẻ.

2.Cụ thể, trong quá trình dạy học, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết như sau:

một. Khả năng viết sinh động, giàu sức gợi, giàu hình ảnh và âm nhạc:

Từ hướng dẫn, gợi ý của giáo viên và từ một ý cụ thể hoặc từ một câu đơn (chỉ có một chủ ngữ hoặc một cụm vị ngữ), giáo viên hướng học sinh mở rộng câu bằng cách thêm các thành phần bổ trợ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ, động từ. , tính từ, từ ghép, hình ảnh minh họa, từ tượng thanh,… có sử dụng hình ảnh và chi tiết biểu cảm; Các thang đo kĩ thuật như nhân cách hoá, so sánh, điệp ngữ, điệp ngữ, hoán dụ, phóng đại,… làm cho việc diễn đạt câu văn, đoạn văn cụ thể, sinh động hơn giúp người đọc đồng cảm với mình.

Các yêu cầu rèn luyện kỹ năng có thể được thực hiện trong các bài luyện từ và câu hoặc các bài tập làm văn. Các bài tập làm văn sẽ giúp các em học sinh cảm nhận bài văn hay hơn về ý nghĩa, sinh động, giàu cảm xúc,… giúp các em hứng thú hơn trong việc học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Dưới đây là một số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ và viết câu sinh hoạt:

*bài tập 1: Từ những câu đã cho, hãy viết lại chúng một cách rõ ràng và gợi cảm xúc bằng cách bổ sung các biện pháp kĩ thuật:

Các em học sinh xúng xính trong những bộ quần áo sặc sỡ vui chơi trong sân trường.

Xem thêm  Cách vẽ 3d bằng bút chì

+Học sinh mặc quần áo sặc sỡ chơi trong sân trường Như một đàn bướm đẹp bay lượn xung quanh. (thang đo so sánh).

Bông hoa hồng đẹp.

+Hoa hồng xinh Hương cười thì thầm. (phương pháp dựng hình).

Tôi yêu những người đi biển làng tôi, sóng biển trong xanh và những con thuyền ra khơi.

+ Tôi tình yêu thủy thủ của làng tôi, tình yêu sóng biển trong xanh và tình yêu Thuyền ra khơi. (đảo ngữ).

Xa xa, những cánh buồm đung đưa trên sông, một vài người câu cá chớp nhoáng, đàn chim chiều tản mác trở về tổ.

+Xa, giòn chèo thuyền trên sông, lờ mờ thợ săn tiêu tan Một số loài chim bay về tổ. (phương pháp nghịch đảo).

*bài tập 2: Điền những từ thích hợp nhất vào chỗ chấm để tạo thành những câu văn hay và giàu sức gợi:

Cổng trường … Chúng tôi bước vào lớp.

+cổng trường Chào mừng với vòng tay rộng mở Chúng ta vào lớp. (phương pháp dựng hình).

Mèo Tabby với đôi mắt đen tròn …

+Mèo Tabby với đôi mắt đen tròn Như hai hạt nhãn, râu ông run như tuyết. (thang đo so sánh).

Tôi lớn lên với…

+tôi lớn lên với tình yêu từ mẹ tôi, tình yêu người cha tình yêu Bảo vệ dân làng. (hành động nói).

*Bài tập 3Diễn đạt lại các câu sau bằng cách thêm từ và kỹ thuật để làm cho chúng sinh động và dễ nhớ.

Đôi cánh của gà mái mẹ xòe rộng.

+Đôi cánh của gà mái mẹ xòe rộng Như một tán cây vững chãi che chở cho đàn con khỏi mưa gió.

Bà Heen Ngọc nhẹ nhàng bước vào lớp.

+Cô Hằng Ngọc nhẹ nhàng bước vào lớp Như một làn gió xuân, ánh mắt của cả lớp trông thật ân cần và thân thương.

Bảng đen đẹp.

+bảng đen đẹp Mỗi lần chúng tôi lau nước mắt cho cậu ấy nhưng cậu ấy học hành rất chăm chỉ.

Ngoài cách viết câu sử dụng các từ và cụm từ đã nêu ở trên. Trong dạy học, giáo viên cần hướng học sinh chú ý đến đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt đa dạng về loại (từ một loại, từ ghép đẳng lập, từ ghép đẳng lập), giàu nghĩa (từ một nghĩa, nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, đồng âm với nghĩa) .khác, …), linh hoạt trong sử dụng (từ dùng trong đời sống hàng ngày, trong sách khoa học, từ trong nước, từ chuyên môn, …).

B.Kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo rằng các ý tưởng được liên kết chặt chẽ với nhau:

Để thực hiện tốt kỹ năng này, trước hết cần quan sát kỹ sự việc, tìm nhiều ý, nhiều chi tiết, biết sắp xếp các ý theo một trình tự rõ ràng, hợp lí, v.v. Có một số bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh lập ý trước khi cho học sinh viết thành từ ngữ cụ thể, nhằm hỗ trợ thiết thực cho việc ‘lập luận’, ‘lập luận’. Tâm ”đối với phân môn Tập làm văn ở tiểu học.

Trong phần viết lại bài, giáo viên cần cho học sinh luyện viết lại phần mở đầu, kết bài, thân bài để học sinh tự rút kinh nghiệm sau khi giáo viên sửa bài trên lớp. Qua phần luyện tập giúp học sinh trau dồi kiến ​​thức cơ bản và bước đầu nhận ra sự “liên kết các ý” trong đoạn văn, nghĩa là: có sự liên tục giữa các câu, và có mối quan hệ giữa các ý với nhau. . Các ý trong đoạn văn được diễn đạt theo một trình tự nhất định (trình tự không gian, trình tự thời gian, trình tự tâm lí) để làm rõ và xác định ý chính. Trong phân môn Luyện từ và câu (Sách TV5, tập 2), các em đã được học một số phương thức liên kết đơn giản như sau:

Thư:“Nối các câu trong bài với việc lặp lại các từ” (TV5, tập 2, tr. 71-72).

+ Các khái niệm:Lặp từ là một phương thức liên kết được thực hiện bằng cách lặp lại một hoặc nhiều từ ở câu thứ hai trong câu đầu tiên.

-Ví dụ: ở vùng đất đóVào tháng Giêng, tôi đã đi đốt bãi và đào các khu ổ chuột. Tháng tám, con nước về, tôi giẫm đạp, đánh bắt, nuôi tôm. Tháng 9, tháng 10, đi hái da ở ven sông. ở vùng đất đóVào những ngày hội chợ, dì tôi mua cho tôi một ít bánh. Anh ấy sẽ nằm với chú tôi vào ban đêm, gác chân lên tôi và ngâm thơ …

Xem thêm  Xem phim khi Người Đàn Ông Yêu thái lần Tập 39

(Nhà yêu nước Nguyễn Khải).

Thư: “Nối các câu trong văn bản bằng cách thay thế từ ngữ ”(TV5, tập 2, tr. 76-77).

+ Các khái niệm: Khi các câu trong âm tiết nói về cùng một người, một việc, ta có thể dùng đại từ hoặc các từ đồng nghĩa để thay thế các từ đã dùng ở câu trước để tạo mối liên hệ giữa các câu và tránh lặp từ. Phương pháp liên kết này được gọi là thay thế.

– Ví dụ: thiên nga Con non mới nở được ba ngày, lớn hơn quả trứng một chút. rằng họ Cô ấy có bộ lông vàng. Màu vàng óng đẹp đẽ như của gà con mới sinh … (Ngỗng con mới nở, TV4, tập 2, tr. 119).

Thư: “Nối các câu trong bài bằng từ nối” (TV5, tập 2, trang 97-98).

+ Các khái niệm:Để chỉ ra mối quan hệ nội dung giữa các câu trong bài, chúng ta có thể liên hệ các câu này với các quan hệ từ hoặc một số từ chuyển nghĩa như: but, nevertheless, Ngoài ra, cuối cùng, mặt khác, ngược lại, thời gian cho đến khi…

Ví dụ: Trên đường từ nhà đến trường, em phải băng qua Hồ Hoàn Kiếm. Khi bạn có bạn bè, bạn pha trò, và đôi khi bạn đuổi theo nhau trên đường đi. Nhưng mà Khi ở một mình, tôi thích ôm cặp vào ngực, ngắm nhìn vòm cây và lẩm nhẩm học bài khi đi bộ. (qua Những mùa hoa nở, TV5, tập 2, tr. 98).

Ngoài phần hướng dẫn các em sử dụng phương thức liên kết câu nêu trên, trong sách Tiếng Việt lớp 5 còn có 5 bài hướng dẫn các em xây dựng kiến ​​thức, kĩ năng về cách “liên kết câu ghép bằng cách sử dụng quan hệ”. từ láy ”và“ nối câu ghép bằng các cặp từ giống nhau. ”Nhưng mỗi giáo viên phải chú ý dạy cẩn thận, sâu sắc, hỗ trợ cho chủ đề Tập làm văn khi học sinh đang luyện viết câu, đoạn văn, bài viết trong một loại bài cụ thể. Đúng, giáo trình là “Vòng tròn đồng tâm”. Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm đến phản hồi về kết quả làm việc của học sinh về ý kiến ​​(có đúng, đủ, cụ thể không) và về từ ngữ. (cách dùng từ, cách đặt câu, diễn đạt tốt, có Đúng hay không. Không, cách diễn đạt cảm xúc, v.v.).

c. Luyện viết các bài văn có cấu trúc tốt, từ ngữ phù hợp với yêu cầu về nội dung, thể loại và kiểu bài:

Học sinh viết theo dàn ý đã nhận xét và chỉnh sửa từ bài trước. Để bài làm của mình có cấu trúc mạch lạc, cần hướng dẫn học sinh học cách nối đoạn văn bằng các từ như: sớm, lâu rồi, tuy nhiên, trong lúc đó, v.v. Nhắc học sinh xuống xe. Dòng cuối đoạn văn Bắt đầu đoạn văn tiếp theo bằng một câu kết nối với ý khác, giúp bài văn rõ ràng, mạch lạc và ngắn gọn. Chữ viết tay phải rõ ràng và cố gắng luyện viết tay đẹp. Bài làm cần sáng sủa, sạch đẹp, nhắc nhở học sinh nắm vững đặc điểm thể loại, kiểu bài của bài làm văn như: “Tả người” – cần lựa chọn động từ chủ động và động từ chỉ tình huống. việc sử dụng các tính từ gợi hình ảnh và cảm xúc; lời nói và hình ảnh thích hợp; Sử dụng những so sánh, ví von sinh động … để miêu tả riêng và bộc lộ tình cảm, thái độ của mình đối với người được tả.

Cái hay của một bài văn hay không chỉ ở ý nghĩa nội dung, cách diễn đạt tình cảm mà nội dung, tình cảm phải được thể hiện qua vẻ đẹp của tiếng Việt. Trong dạy học, cần hướng học sinh tiểu học đi từ những việc cụ thể, chắt lọc những điều quan trọng về kiến ​​thức, kỹ năng để truyền thụ cho các em. Khuyến khích tính kiên trì trong học tập và tính kiên trì trong rèn luyện. Kết nối kiến ​​thức và môn học với vốn sống của học sinh và hiểu chúng, đánh thức chúng bằng những gì chúng có và từng bước “phát triển” chúng.

__________________________________ Nguồn: vantieuhoc.com ___________________

Bài viết được chia sẻ bởi caigiday.com

Blog khác

Leave a Reply

Your email address will not be published.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>